Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

Phạm Văn Kỳ Thanh : Những Nét Ðặc Trưng Dân ca Trong Ca Khúc Phạm Ðình Chương

Phạm Ðình Chương đã dùng hai câu đầu của điệu cò lả, dân ca Bắc Ninh để mở đầu cho ca khúc Ðược Mùa:
“Con cò cò bay lả lả bay la
Bay qua (qua) cửa phủ bay về (về) Ðồng Ðăng
Tình tính tang (tang) tính tình
Cô mình rằng cô mình ơi
Rằng có nhớ (nhớ) ta chăng”.

Những Nét Ðặc Trưng Dân ca Trong Ca Khúc Phạm Ðình Chương

Phạm Văn Kỳ Thanh,


Chữ “chăng” của điệu Cò Lả vừa dứt ở chữ âm(tonique) Phạm Ðình Chương đã khéo léo kéo sang chữ “cánh đồng” của bản Ðược Mùa khiến cho người hát dù yếu kém nhạc pháp vẫn có thể bắt ngay vào bản nhạc không khó khăn. Tuy nhiên bản Ðược Mùa hoàn toàn không khai triển giai điệu cò lả trong suốt bản nhạc, nhưng kiến trúc âm thanh được xây cao dần trong ba câu đầu để tạo thành hình ảnh những bó lúa được dơ cao, hạ thấp khi đập lúa. Giai điệu của bài Ðược Mùa không hẳn ảnh hưởng hoàn toàn dân ca, vì chủ âm được nhận ra rõ rệt. Tuy nhiên những dấu láy dùng trong bản nhạc mang ảnh hưởng rất Việt Nam (cánh à a ánh đồng...vui vui lên lua á a à ơi..)

Cũng như các nhạc sĩ khác, Phạm Ðình Chương thường phát triển một giai điệu dân ca có sẵn để làm phong phú thêm ca khúc của mình, hay tự tạo cho ca khúc của mình một âm hưởng dân ca. Cả hai tiến trình sáng tác đều có giá trị ngang nhau là làm giàu thêm cho nền tân nhạc Việt về phương diện xây dựng âm điệu. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ khi sáng tác ca khúc Gạo Trắng Trăng Thanh cảm đề từ Hò Giã Gạo miền Trung (1), tuy không lấy hẳn giai điệu của bài hò đó. Cũng như Anh Việt Thu khi viết Tám Ðiệp Khúc có cho thêm phần Hò ru con miền Nam vào ca khúc của mình. Trở lại trương hợp Phạm Ðình Chương khi ông viết Hò Leo Núi, về kết cấu âm điệu và tiến trình chuyển cung ảnh hưởng Tây phương hoàn toàn. Ðặc biệt trong ca khúc này ông dùng rất ít dấu láy và những nét trang điểm cần thiết cho dân ca. Nhưng trái lại về hình thức ông dùng rất đúng lề lối của điệu hò. Về lối hò để phụ giúp tinh thần cho những động tác như leo núi, kéo gỗ...thường chia ra làm hai lớp: Lớp Trống là đoạn hò của người Hò Cái. Lớp Mái là đoạn hò của người Hò Con (2). Trong Hò Leo Núi của Phạm Ðình Chương cũng chia ra hai đoạn như sau:

Hò Cái ------------------- Hò Con

...Vượt đồi vượt nương ---------- Dô !
Ði qua rừng hoang -------- ---- Dô !
Băng suối băng ngàn ------------ Dô !
Chim muông trong hang --------- Dô !
......


Nếu có một cái nhìn nghiêm khắc bảo thủ chúng ta có thể ví bài Hò Leo Núi của Phạm Ðình Chương như một “ông Tây mặc áo the”. Tuy nhiên, nếu chấp nhận sự giao lưu văn hóa một cách cởi mở hơn, Ca khúc nói trên có thể được xem như một pha trộn, hài hòa giữa hình thức và nội dung Ðông Tây.

Hội Trùng Dương hầu như là trường ca duy nhất Phạm Ðình Chương giới thiệu với quần chúng trong suốt hơn ba mươi năm âm nhạc của ông. Trái hẳn với Hò Leo Núi nói trên, trường ca Hội Trùng Dương xử dụng hình thức khuôn khổ Tây Phương để chuyên chở một nội dung dân ca Việt Nam.

Về bố cục trường ca Hội trùng Dương gồm một đoạn mở đầu và ba phiên khúc. Mỗi phiên khúc là tiếng nói của một dòng sông tiêu biểu cho mỗi miền. Miền Bắc có sông Hồng Hà đại diện, vào đến miền Trung có Sông Hương lên tiếng, xuôi miền Nam có Sông Cửu Long góp mặt. Tiếng nói của ba dòng sông đều được biểu tượng hóa bằng nỗi lòng của ba thiếu nữ. Tâm sự của mỗi dòng sông cũng là tâm sự của người dân địa phương về dân sinh, về nỗi khó khăn trong sự khuất phục với thiên nhiên, về sự can trường tranh đấu với nạn ngoại xâm.

Ðể tạo sự chú ý của người nghe, Phạm Ðình Chương mở đầu với dòng nhạc chậm rãi, vững chãi rất hợp với sự dẫn đạo của tiếng kèn trumpet, tực như tiếng báo hiệu sự xuất hiện của bậc quân vương thời trung cổ:

Trùng dương
Chốn đây ngàn phương
Có ba dòng sông
Cuốn xuôi biển đông
Nhắc câu chờ mong....
.....


Về nhạc thuật, trong cả ba phiên khúc Phạm Ðình Chương đã dung hợp ý nhạc có âm hưởng dân ca, với nhịp điệu Tây phương.

Những điệu hò dùng ở đây đều do sự sáng tạo tinh anh của Phạm Ðình Chương, vì ông không dùng âm điệu dân ca nghuyên thủy. Trái lại ở phần đầu của Tiếng Sông Hồng (Chiều nay nước xuôi...người áo nâu giãi dầu) ông đã dùng điệu Hò Dô Ta sáng tạo. Sở dĩ chúng tôi dùng chữ “sáng tạo” ở đây là vì đã có sự tranh luận về từ ngữ này. Ðứng về phía Trần Văn Khê và Nguyễn Hữu Ba, theo quan niệm định nghĩa dân ca một cách cổ điển, Willi Apel và Ralph Daniel đều cho rằng: “Dân ca là bài hát cổ, không biết tác giả là ai, được truyền miệng trong giới bình dân qua nhiều thế hệ và trở thành phổ thông khắp nước hay trong một cộng đồng nhỏ hơn”. Ðứng về phía Phạm Duy, ông mệnh danh những bài hát của ông có âm hưởng dân ca là “dân ca mới” (3) Ngoài ra Lê Thương cũng tạo một tên mới cho tập “Dao Ca Tạp Khúc” của ông là “dân ca cải biến”. Như vậy rõ ràng điệu Hò Dô Ta của Phạm Ðình Chương thoát ly dân ca nguyên thủy từ nhạc điệu đến nhạc thức. Vì lớp trống ( Hò Cái) nét nhạc hoàn toàn Tây phương và lớp mái ( Hò Con) biến đổi thành một phần đối âm (counterpart) của lớp Trống và cả hai bị chi phối bởi luật hòa âm ( harmony) Tây phương. Phần hai của đoạn Tiếng Sông Hồng dồn nhanh (acceleration) (chậm hơn Foxtrot và nhanh hơn March) và cứ như thế hai lớp Trống Mái không còn ở tư thế đối đáp nữa, cuối cùng lớp mái đã nhập vào lớp Trống để biến thành một hành khúc.

Sang đến phiên khúc hai Tiếng Sông Hương, trừ đoạn cuối ( Bao giờ máu xương....Tiếng cười đoàn viên), có lẽ vì muốn duy trì nét cổ kính của miền cố đô nên Phạm Ðình Chương đã khéo léo trở về với nét nhạc ảnh hưởng rất nặng dân ca nguyên thủy. Ở đây, ông đã phỏng theo điệu hò Mái Ðẩy (4) miền Trung, nhịp điệu chậm rãi, rất hợp với sự than van kể lể ( Hò ơi phiên Ðông Ba.... để lan biển khơi). Ðoạn hai của phiên khúc hai nhái lại đoạn hai của phiên khúc một. Tuy nhiên khó phủ nhận được nghệ thuật dụng âm ngữ tài tình của Phạm Ðình Chương ở phiên khúc hai. Những chữ Ánh (Ðêm đêm khua ánh trăng vàng mà than), Bến (Bến Vân Lâu thuyền có đơm sâu), Lắm (Quê hương em nghèo lắm ai ơi !), Mỗi (Trời rằng trời hành cơn lụt mỗi năm, Vắng ( Ai là qua là thôn vắng), Nắng (nghe sầu như mà mưa nắng), tuy là những thanh trắc nhưng đã bị kéo oằn xuống ở một vị trí thấp hơn thành bằng của chữ đi kế trước hoặc tiếp sau (khua, trăng, vân, ai, năm, thôn). Chính vì vậy điệu hò mới nỗi bật địa phương tính qua lối phát âm thổ ngơi miền Trung. Nét đặc trưng này khiến người hát không cần phải là người miền Trung, nếu xướng âm (déchiffrer) đúng cao độ của câu hát cũng có thể tạo thành âm hưởng của tiếng nói miền này. Hiện tượng nói trên xãy ra là vì tiếng Việt với năm dấu: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng khi mỗi tiếng phát âm ra tự nó đã được xếp ở năm cao độ khác nhau. Chẳng thế, một nhà văn ngoại quốc đã nhận định: “Ngôn ngữ Việt Nam là ngôn ngữ duy nhất trên thế giới có nhiều giọng điệu cung bậc....Phải nghe người dân mỗi miền, người Bắc, hay Trung, hay Nam hát những dân ca quen thuộc với tiếng nói thuần túy của họ, chúng ta mới thấy ý vị của giọng nói ấy đậm đà chừng nào...”(5). Nếu phân tích cấu trúc âm thanh của các dấu trong tiếng Việt, thanh nặng được xắp ở vị trí như sau:

(Huyền ) (Nặng) (Không dấu)

Thanh ngã không có cao độ nhất định, khi thì tựa từ Thanh Huyền để uốn lên Thanh ngang ( không dấu) (giọng miền Bắc) có khi nhập hẳn vào Thanh sắc (giọng miền Nam) Thanh Hỏi uốn khúc từ trầm lên bổng (Huyền-Sắc), cho nên vị trí nó phải cao hơn Thanh Ngang (không dấu) và thấp hơn Thanh Sắc (6).
(Huyền) Âm vực chính của Thanh Hỏi (Sắc)

Ðoạn hai của phiên khúc Tiếng Sông Hương dồn nhanh hơn đoạn đâu và về ý nhạc nhắc lại đoạn hai của phiên khúc một Tiếng Sông Hồng. (Ai là qua là thôn vắng....Tiếng cười đoàn viên )

Vào đến miền Nam, miền đất phù sa màu mỡ, sức đối kháng với thiên nhiên không còn mãnh liệt như miền Trung. Vì thế, Phạm Ðình Chương đã dùng những nét nhạc thật khỏe khoắn, cởi mở, sung túc để nói lên đặc tính địa lý nhân văn của miền này. Trong cả phiên khúc ba Sông Cửu Long, ông chỉ xen lẩn hai câu hò theo điệu ru con miền Nam:

Chẻ tre bện sáo cho dày
Ngăn ai sông Mỹ có ngày gặp em

Ðiệu ru này thuộc ngũ cung hơi Nam giọng oán tựa như điệu ru con ở Quảng Nam miền Trung (7).
Do Mi Fa Sol La

Điệu Hò Ru Con miền Nam đã đóng vai trò rất quan trọng trong dân ca miền Nam. Phạm Ðình Chương đã nhận chân được điều ấy, khiến ông thành công trong tiến trình nêu lên địa phương tính đặc trưng cho miền Nam. Chỉ với hai câu Hò Ru đó thôi cũng đã làm nổi bật ý nhạc dân tộc giữa những cung điện Tây phương khỏe khoắn tươi sáng ( Nước sông dâng cao....năng kho đồng lầy). Ðoạn cuối của phiên khúc ba Sông Cửu Long một lần nữa lại nhắc lại tứ nhạc của đoạn cuối của phiên khúc một Tiếng Sông Hồng và phiên khúc hai Tiếng Sông Hương.

Nét đặc trưng dân ca mới chỉ là một trong những cá tính âm nhạc Phạm Ðình Chương. Với cảm nhận bén nhậy ông là một trong những nhạc sĩ hàng đầu của miền Nam Việt Nam đã mang những nét tân kỳ của nhạc phổ thông Tây phương vào hồn thơ Quang Dũng, Ðinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Hoàng Anh Tuấn, Hoàng Ngọc Ẩn...Thi ca tự nó đã có nhạc tính khi ngâm hay đọc lên. Tuy nhiên sự kỳ diệu của âm nhạc như đôi cánh vạm vỡ nâng hồn thơ lên cao hơn và bay xa hơn. Ðó là nét đặc trưng thứ hai trong nhạc Phạm Ðình Chương, nói đúng hơn trong “ Nỗi Nhớ Khôn Nguôi” của Phạm Ðình Chương, chúng tôi sẽ nêu lên trong dịp khác với tiêu đề: “ Phạm Ðình Chương bàn tay dịu vợi kết nối Thi Ca với Âm Nhạc”.

Phạm Văn Kỳ Thanh



--------------------------------------------------------------------------------

Văn Giảng – The Vietnamese Traditional Music in Brief – Ministry of State in Charge of Cultural Affairs – Saigon 1970

Miền Trung gọi Hò Cái là Vế Kể và Hò Con là Vế Xô

Xin đọc Nhân Văn số 3, tháng 10 năm 1982 “ Bàn về dân ca Việt Nam” Phạm Văn Kỳ Thanh

Sở dĩ gọi là điệu hò Mái Ðẩy là vì cứ đến lượt điệu mái hò là thuyền được đẩy đi.

Doãn Quốc Sĩ - Người Việt Ðáng Yêu. Sáng Tạo Sài Gòn 1965 trang 143

Minh Lương – Tìm hiểu Âm Giai Ngũ Cung. Tư liệu thuyết giảng cho Ban Quốc Nhạc (Âm nhạc viện Sài Gòn) chưa xuất bản Sài Gòn 1968.

Phạm Duy - Ðặc khảo về Dân Nhạc ở Việt Nam. Hiện Ðại Sài Gòn 1972 trang 55.


Trích từ Nhân Văn

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23383802