Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

GS Trần Văn Khê có sáng tác tân nhạc hay không ?

Hỏi :Tôi rất ngưỡng mộ GS Trần Văn Khê về phương diện nghiên cứu nhạc Việt Nam, và tôi muốn biết ngoài lĩnh vực nghiên cứu GS Trần Văn Khê có sáng tác những nhạc phẩm loại tân nhạc hay không ?Nếu có, gồm những bàn gì,tự lúc nào, và được bao nhiêu bản. Rất mong được câu trả lời.


Tino Rossi (1907-1983)



Vincent Scotto (1874-1952)

Đáp :Tôi từ nhỏ đã thích đàn dân tộc và đến lúc vào trường Trung học Trương Vĩnh Ký, cậu mười tôi là Ông Nguyễn Tri Ân có máy hát và mua nhiều dĩa của Tino Rossi. Lúc nghỉ hè cậu mười tôi rước tôi về nhà cậu chơi. Tôi rất thích bài hát của Tino Rossi hát, và đặc biệt nhạc của Vincent Scotto, như bạn Lưu Hữu Phước.

Thích nhạc để nghe hay biểu diễn, chớ không có ý muốn sáng tác.
Đến năm 1940, sắp thi Tú Tài Phần 1, tôi học Pháp văn với Ông Georges Coulet, và Anh văn với Bà Vincenti. Hai Thầy cho học thuôc lòng thơ tiếng Pháp của Verlaine:

Les sanglots longs
Des violons
De l’Automne….
….

và thơ tiếng Anh:
 
Twinkle twinkle , little star
How I wonder what you are
….

Lúc tôi học hai bài thơ đó, khi đọc lớn lên để tập trả bài, thay vì đọc thơ, tôi ngâm hai bài đó như tôi thường thích ngâm thơ Việt Nam Bài Qua đèo ngang của Bà Huyện Thanh Quan theo cách bán Xuân bán Ai, .
Khi lời thơ tả cảnh, tôi ngâm theo hơi Xuân thanh thản
Khi thơ chuyển qua nhớ nước đau lòng con quốc quốc, tôi chuyển sang hơi Ai.

Bài thơ của Verlaine tôi ngâm theo “ Ton de Fa “ ( Fa trưởng ) Nhưng ngâm thơ thì phải không có nhịp mớI có thể gọi là “Ngâm” Thơ Tây ngâm không nhịp không giống một loại bài hát của Tino Rossi. Tôi chuyển thành nhịp ba chậm. Thành ra Valse lente mà tôi hát Rubato không theo sát nhịp để cho có vẻ ngâm thơ. Và tôi đã “ vô tình “ phổ nhạc bài thơ Nuit d’Automne (Đêm Thu của Paul Verlaine).
Sau nầy lúc sang Pháp tôi được nghe bài thơ ấy do Charles Trénet phổ nhạc . Hai bàn khác hẳn.

Lúc ra Hà nội trong một dạ hội sinh viên, các bạn đang khiêu vũ đòi tôi hát bài Tây. Tôi hát bài Nuit d’Automne đuợc các bạn hoan nghinh quá. Nhưng có bạn yêu cầu hát theo Swing để các bạn khiêu vũ. Tôi chuyền bài thơ ấy ra điệu Swing. Đó la trò chơi của sinh viên chớ không phải một sáng tác nghệ thuật.

Bài Twinkle twinkle little star tôi không ngâm mà hát theo phong cách bài The butcher’s boy, nhạc Mỹ , và tôi hát “ton Fa trưởng chuyển cung qua Sib thứ." Các bạn cũng hoan nghinh quá. Nhưng tôi lúc đó thich chỉ huy, lo học đàn piano với cháu Bình Minh con Anh Mười Đức. Và không có sáng tác chi nữa.

Trong Nam chỉ huy dàn nhạc Trường Pétrus Ký, và dàn nhạc Scola Club của Hội SAMIPIC ( Société pour l’Amèlioration Morale, Intellectuelle et Physique des Indigènes de Cochinchine : Đức Trí Thể Dục Nam Kỳ)

Ngoài Hà nội chỉ huy dàn nhạc Trường Đại học Hà nội, không phổ nhạc thơ mà cũng không sáng tác.

Lúc trở về Nam vì vấn đề sức khoẻ, và hưỏng ứng phong trào “Xếp bút nghiên “ của sinh viên, tôi lập gánh hát sinh viên đi hát lục tỉnh lấy tiền mua gạo cứu đói, đi kháng chiến, và sau đó vì tình trạng quân sự, rút về Nam, tôi ẩn trú trên Lộc Ninh. Lúc đó rât buồn và đọc lại những bài thơ loại thơ mới của Xuân Diệu, Huy Cận . Găp hài thơ “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, “Giận nhau” của Nguyễn xuân Huy, Thời gian của Xuân Diệu tôi thích quá nên từ “ ngâm thơ" theo kiểu mớỉ biến thành phổ nhạc thơ. Ba bài ấy, tôi chỉ hát chơi cho bạn bè nghe.

Anh Lê Thương thích bài Đi chơi Chùa Hương của tôi. nên tổ chức cho ca sĩ Mộc Lan hát bài đó và Nhà xuất bản Tinh Hoa xin ấn hành và xuất bản lần đầu 2000 bản, lần thứ nhì 2000 bản lúc tôi sang Pháp năm 1949.

Em tôi Trần Văn Trạch, thích bài “Giận nhau” đem ra biểu diễn trong mấy buổi Đại Nhạc Hội và trên Đài Phát thanh Sài gòn được thính giả hoan nghinh quá. Nhà Xuất bản An Phú xin xuất bản. Trạch không nhớ tên Nhà thơ Nguyễn Xuân Huy nên trong bản in năm 1953-hay 1954 tôi không nhớ rõ-, lại để Nhạc và lời của Trần Văn Khê. Khi bạn bè gởi bài in cho tôi, tôi có viêt bài đính chánh, nhờ Anh Lê Thọ Xuân cho đăng trong 3 tờ báo để cho danh chánh ngôn thuận..

Thành ra trong năm 1946 tôi đã phổ nhạc 2 bài “Đi chơi Chùa Hương “ và “ Giận nhau “được đưa ra ánh sáng nhờ Lê Thuơng Trần Văn Trạch.

Bài "Thời gian" của Xuân Diệu còn trong kỷ niệm của tôi chớ chưa ai biết cả.

Năm 1947, tôi tham gia kháng chiến tại thành và cùng với các Anh Lê Thọ Xuân, Maurice Lộc, Mai Văn Bộ, Nguyễn Văn Hiếu, Trần Thọ Phước , anh Chị Công Minh, Ái Lan làm báo Thần Chung , phe "Thống Nhứt " chống lại Phe “ Tự trị “. Các anh yêu cầu có bài hát “ Thống Nhứt” gấp để khẳng định lập trường của Phe Thống Nhứt. Không ai đặt nhạc vì Lưu Hữu Phước đã ra Hà nội. Tôi phải đặt nhạc cho Mai Văn Bộ đặt lời bài hát “ Thống Nhứt “.
Thống nhứt Bắc Nam Trung . Thóng nhứt chí hy sinh. Cho quê hương, cho hoà bình . Ngày tươi sáng mới, Lừng ca khắp thế giới. Nắm tay nhau : Dân tộc giải phóng thành công.

Chiều ngày mùng 30 tháng 4 năm 1948. các bạn trong Ban biên tập báo Thần Chung đề nghị có bài hát cho Ngày mùng 1 tháng 5 để đăng vào báo. Hôm đó cac bạn về hết còn anh Nguyễn Văn Hiếu ( sau nầy là Bộ trưởng Văn hoá nước Việt Nam dân chủ Cọng Hoà) và tôi. Chúng tôi phải lãnh trách nhiệm thực hiện quyết định của Ban biên tập.Tôi đặt nhạc, anh Hiếu đặt lời :
Tưng bừng thay! Muôn ngọn cờ bay oai hùng. Dắc đoàn chiến sĩ lao công tranh đấu chống quân gian tham. Thách mưa dầm nào ngại nắng hanh thiêu mình. Đoàn lao công, quyết hy sinh,(cho) nhân loại no lòng , thân lành. Đời cần lao thiếu nguồn sinh khí, .Cùng khao khát hương công lý. Mong được ngày cùng reo lời ca muôn nơi. Khắp phương trời . Lao công xây một ngày mai. Nguyện thề hoà chung dòng máu . Vì Hạnh Phúc và vì Tự do

Sang Pháp, từ năm 1949, lo học, và làm công việc mưu sống, chỉ biểu diễn âm nhạc.

Đến năm 1952 , ăn Tết trong nhà dưỡng lao, được nhiều bài nhạc các bạn gởi từ chiến khu, nên ngày Tết thấy buồn tôi đã sáng tác bài “ Xuân khói lửa “.Chỉ hát cho các bạn cùng cảnh ngộ trong bịnh viện nghe. Và bịnh không thuyên giảm bác sĩ hẹn cho xuất viện, nhưng đến ngày dự định lại phải đợi cho bịnh thật thuyên giảm. Chẳng biết tới chừng nào! Nên sáng tác bài “Mưa “ theo hơi Nam Ai Huế :

…. Hơi nước nhẹ nhàng bay
Bay lên trời tìm mây. Mây ơi!
Khi bay heo đám mây lành
Bỗng gặp cơn gió lạnh
Hồn nước biến thành Mưa
Trở về trần gian, chảy kiếp thừa...


Năm 1954 ra khỏi bịnh viện.

Từ 1956, lúc đi cắm trại với các bạn Việt Kiều, tôi sáng tác bài “Đi cắm trại “.

Năm 1957, trong dịp dự đám cưới một bạn Việt Kiều, tôi sàng tác bài “Mừng Chú Rể, Mừng cô dâu“ . Năm này, tôi gặp lại người em họ Mộng Trung. Hai anh em đi giới thiệu âm hạc Việt Nam tại Pháp, Thụy sĩ. Tôi có dịp đọc và phổ nhạc nhiều bài thơ của Mộng Trung. “Ôi đợi chở “ “Ngủ đi em !”, “Mai rừng”, “Chỉ có một lần thôi “.
Tôi có dịp đọc lại cho bạn bè nghe những bài thơ của một nữ sinh trường Đồng Khánh gởi cho anh Đường, học sinh Trường Pétrus Ký, trích trong tập “ Lòng Anh, Lòng Em “. Và tôi đã xúc động và đặt bài cùng tên “để tặng cho những đôi uyên ương xa cách.”

Năm 1958, tôi phổ nhạc bài thơ “ Nàng Nhạc “của bạn tôi,nhà thơ Nguyễn Văn Cổn tặng tôi.

Năm 1962, 1963, tôi hát lại những bài Đồng dao. Ngày xưa chỉ hát theo một điệu. Tôi sáng tác theo lời đồng dao cũ, những bài đồng dao mới: “Nu na.. Nu nống “, Chi chi… chành chành”, “Rồng..Rắn “, Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn “, Con công hay múa “ Nhưng chỉ dạy cho mấy đứa cháu của tôi trong làng Vĩnh Kim hát chơi mỗi khi tôi về thăm quê; Và sau nầy Nhà giáo ưu tú Phạm thúy Hoan, có dạy cho mấy cháu trong Tiếng Hát Quê hương hát.

Năm 1967 tôi được tập thơ của Trần đăng Khoa, tôi thích quá nên có phổ nhạc mấy bài “Ò , ó, o” , “ Hái trầu “ ," Khi mẹ vắng nhà”, “Hỏi đường “ , “ Vàng ơi!”.T

ừ đó dến nay không có sáng tác bài nào khác. Ngoài bài thơ bát cú “Tự thuật” của tôi, nhân lúc tôi 68 tuổi, tại Honolulu, và vì muốn “ngâm thơ theo hơi nhạc Hawaì" theo lời yêu cầu của mấy cháu người Việt đến mừng sinh nhựt của tôi, mà tôi “ phổ nhạc” bài thơ ấy năm 1988.

Tôi say mê nghiên cứu, và biết mình chỉ là một nhà nghiên cứu, một nhà giáo dạy âm nhạc học, một diễn viên nhạc theo phong cách tài tử, mà không phải nhạc sĩ sáng tác. Nên tôi không có đếm số bài sáng tác. Như các bạn dã thấy, những bài tôi sáng tác vì hoàn cảnh hay gặp đôi lúc xúc động vì nội tâm hay ngoại cảnh. Phần nhiều là phổ nhạc những bài thơ tôi thích. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với ai về những “sáng tác" của mình trong lĩnh vực âm nhạc. Tôi không giới thiệu những bài hát cho ai ngoài gìới bạn bè chí thân trong lúc trà dư tửu hậu. Tôi thấy rõ rằng hai bài được nhiều ngưòi biết là nhờ được ca sĩ tên tuổi giới thiệu. Như bài “Đi chơi chùa Hương” được Mộc Lan, Thái Thanh , Thanh Lan, HồngVân , và mấy năm gần đây Ỳ Lan con của Thái Thanh giới thiệu. Và nghe đâu có một vài ca sĩ bên Mỹ hát bài ấy, mà tôi chưa có dịp nghe. Cũng như bài "Giận nhau", nhờ em tôi là Trần Văn Trạch và sau nầy Hồng Vân hát. Những bài khác không ai biết cả. 

Xin cam on GS Tran Van Khe da giai thich rat ranh re va cho thay hanh trinh am nhac cua GS trong giai doan dau cua tan nhac Viet Nam . Toi co nghe mot so bai tan nhac dau thap nien 50 o Saigon o nhung rap hat bong truoc khi chieu phim co de nhac Vietnam hat nhung bai Quyet Tien, Xa Que, Lien Hiep Quoc, Hoa Binh 48, Bong Hoa Rung . Roi toi co mua mot vai dia 78 vong cua hang ORIA co nhung bai hat do . Ca si mang ten la Hai Minh co giong hat rat giong giong cua Giao su . Khong biet nguoi do co ba con gi voi Giao su hay khong ? Toi cung co vai dip nghe Giao su thuyet trinh ve lich su nhac Viet Nam va A chau o Saigon va tai Hoa ky . Toi rat kinh phuc tai dien thuyet cua Giao su va su hieu biet uyen bac cua Giao su . Xu Viet Nam co mot nguoi nhu vay that qua la mot niem hanh dien chung cho dan toc Viet Nam tu hai ngoai den quoc noi . 

Em nói rằng em có nghe mấy bài Quyết tiến, Bông hoa rừng trong dia hát Oria. Và em nghe giọng hát của Hải Minh trong dĩa hát giống giọng của tôi.
Quả thật em rất thính và Hải Minh là bí danh tôi dùng khi hát cho dĩa Oria để có tiền học . HảiMinh là tên hai đứa con của tôi . Tôi đã hát cho dĩa Oria trên 20 bài của nhiều nhạc sĩ :

Lê Thương : Hoà Bình 48, Liên hiệp quốc, Chúc Tết, Tiếng thùy dương (Thơ của Huy Cận mà thính giả thường nghe với tên Ngậm Ngùi , nhạc phổ của Phạm Duy) Biển sau giông tố, Hòn Vọng phu 3

Phạm Duy : Chiến sĩ vô danh, Nhớ người thương binh, Sông Lô

Lưu Hữu Phước: Hờn Sông Gianh

Nguyễn Hữu Ba : Lửa rừng đêm, Quãng đường mai

Võ đức Thư : Quyết tiến, An Phú đông, Thôn quê bình minh khúc,

Thẩm Oánh : Thanh Niên

Nguyễn tri Khương : Yến tước tranh ngôn

Và những bài Con thuyền trên sóng, Ôi Ngày hạnh phúc, Chiều xa cố hương, Chơn trời mới, Xuân Xuân Xuân , không nhớ tên tác giả.


Đấy cũng là một « bí mật « tôi dã giữ kín đến khi tôi viết Hồi Ký Tập 2 Đất khàch quê người, tôi nói phớt qua.

Hôm nay, cũng vì câu hỏi chân tình của một bạn « tri âm » mới biết trong Diễn đàn Âm nhạc của Vietsciences mà tôi lại «bật mí » cho các bạn biết thêm một việc là năm 1950-51 bần sĩ Trần Văn Khê dưới bí danh Hải Minh đã hát nhiều bài ca tân nhạc để có tiền ăn học trong hai năm.. Và lần đầu trong lịch sử tân nhạc người hát được một dàn nhạc khá hùng hậu với cách phối khí rất Tây – lúc đó của Trần Văn Khê còn «vọng ngoại » đã cộng tác với Georges Ghestem nhạc trưởng dàn nhạc Gaîté lyrique gồm 7 nhạc công của danh nhạc Opéra de Paris. 

Trả lời cho em Trần Quốc.

Em có hỏi tôi về dĩa hát Oria. Năm 1949 khi tôi mới sang Pháp thì người lo việc thâu thanh để làm dĩa hát hiệu Oria là ông Lê Quang Tư đã có thâu mấy dĩa rồi. Lúc đó ông Lê Quang Tư liên lạc với Nhạc sĩ Văn Thông đàn Ghi ta Hạ Uy Di ( guitare hawaïenne) . Anh Thông lựa bài và lo việc phối khí. Anh Thông cũng hát mấy bài và dùng bí danh Văn Lý. Phu nhân của anh Thông có giọng hát rất hay nên cũng được mời thâu thanh. Tôi không nhớ chị dùng tên chi khi hát cho dĩa Oria. Nhưng không phải là Thu Hương. Nghệ sĩ Bích Thuận cũng có thâu thanh bài «Làng tôi» .
Khi gặp tôi năm 1950 anh Lê văn Tư đề nghị với tôi thâu thanh một số bài ca tân nhạc.Hãng ORIA đề nghị một số bài và gởi bản ký âm có nhạc và lời cho tôi chọn..Tôi thấy thích nên bằng lòng lo việc phối khí và tìm dàn nhạc phụ hoạ.
Như vậy là đúng như lời các bực trưởng thượng đã nói với em : dĩa hát Oria thâu thanh đàn hát bên Pháp, in ra dĩa bên Pháp và gởi về bán tại Việt Nam nhưng nhứt là ở Sài gòn, vì các bạn tôi ở Hà nội thuở ấy, không biết dĩa hát Oria.
Hãng dĩa lựa trước nhứt những bài hát của Lê Thương, Võ đức Thu, Nguyễn Hữu Ba, là những nhạc sĩ đang sống tại Sàigon, mà tôi cũng có đề nghị một sô bài của Lưu Hữu PhướcPhạm Duy. Nhưng anh Phước lúc ấy dang ở miền Bắc, nên những bài tôi đề nghị không được chấp thuận như Bạch đằng giang, Chi Lăng, Người xưa đâu tá. Chủ hãng dĩa Oria chỉ chấp nhận bài Hờn sông Gianh. Phạm Duy cũng ở trong chiến khu Việt Bắc. Nhưng mấy bài Nhớ người thương binh, Sông Lô, Chiến sĩ vô danh được ban Giám đốc Dĩa hát đồng ý cho thâu thanh và việc phổ biến, phát hành do bên Việt Nam lo.
Tôi bằng lòng hát để thâu thanh làn dĩa hát , nhưng tôi đề nghị với anh Lê Quang Tư nên lựa dàn nhạc cho hay, chớ tôi không thích hát với một vài nhạc công đệm đàn ghi ta. Anh đồng ý với tôi bỏ tiền ra thuê một dàn nhạc 7 nhạc công và một nhạc trưởng. Phần phối khí tôi cộng tác với nhạc trưởng để thực hiện.
Nhạc trưởng đuợc anh Lê Quang Tư ký hợp đồng là ông Georges Ghestem, nhạc trưởng tại nhà hát La Gaîté lyrique. Ông rất cởi mở và chấp nhận thực hiện những gì tôi đề nghị.Tùy theo giai điệu mà tôi đề nghị lúc nào phải để nhạc cụ nào độc tấu, khi dùng tiếng sáo vi vu, lúc dùng đàn violon lả lướt, lúc nào kèn trompette phải thổi vang như tiếng thúc quân v.v…Đêm nào ông cũng chỉ huy dàn nhạc tại rạp hát đến khuya, nên công việc phối khí phải làm vào buổi xế từ 2 giờ rưỡi đến 5 giờ. Ông Ghestem chép tổng phổ tất cả các bè, các nhạc cụ khác nhau và mỗi lần thâu thanh soạn 5 bài. Tôi hát qua vài lần cho ông nghe để ông biết lúc nào tôi muốn hát to, lúc nào tôi thích ngân dài, lúc nào tôi ngừng hát để cho dàn nhạc đánh Ăn ý với nhau rồi đợi đến ngày thuê phòng cách âm.
Buổi sáng thâu thanh, anh Lê Văn Tư đón tôi, đi ăn lót lòng và bàn việc để bài nào chung với bài nào trong một dĩa, phát hành bài nào trước .
Ông Ghestem chỉ huy dàn nhạc tại rạp Gaîté lyrique, nhưng ông có một số bạn thân đàn trong dàn nhạc Opéra, đàn hay, biết ý của ông nên khi thâu thanh cho dĩa Oria ông thường gọi các nhạc công ấy họp thành một dàn nhạc nhẹ mỗi người biết đàn hay thổi hai ba nhạc cụ khác nhau , nhờ vậy mà chỉ có 7 hay 8 nhạc công, mà đủ màu sắc âm thanh ; các loại kèn saxo ténor, saxo soprano ; clarinette, hautbois, trompette sáo ngang, violon, lục huyền cầm Tây ban nha v.v..
Khi họp đông đủ, kỷ sư thâu thanh sẵn sàng, sau khi hội ý với ông Ghestem nhạc cụ nào thổi độc tấu có micro để gần , ông Ghestem ra lịnh : «Mọi người sẵn sàng nhé ! Đọc lần đầu !» ( Première lecture) Tuy là ông ghi rõ trong tổng phổ lúc nảo phải thổi mạnh hay nhẹ, nhưng sau khi đọc lấn đầu ông chỉnh lại : «Đoạn C, kèn trompette thôỉ mạnh hơn. Qua đến Coda tất cả đều tấu nhẹ và êm lần êm lần. Đợc lần thứ nhì ! ( Deuxième lecture) ». Nếu ông nghe được tốt, ông ra lịnh : «Chúng ta nhập cuộc !( On y va )» Đèn đỏ cháy trong phòng thâu, và ngoài cửa. Nhạc trỗi. Mỗi người xem tổng phổ nhưng cũng nhìn tay đánh nhịp của nhạc trưởng để thấy lúc nào phải đàn hay phải ngưng . Sắp đến tôi hát, ông nhìn tôi trước, nheo mắt cười và đánh nhịp cho tôi vào bài. Xong rồi nghe lại, mỗi người được phép phê bình. Nếu tất cả mọi người đều bằng lòng, kể cả anh Lê Quang Tư, ông Ghestem vui cười hô to : «Bài tiếp theo ! »
Anh Lê Quang Tư lúc nào cũng tươi cười nói : « Thấy mấy sư làm việc tôi khoái quá. Ăn ý với nhau, ai cũng lo hoàn hảo phàn mình, người nào cũng ý thức được công việc mình làm, vui với công việc, không có tiếng cãi cọ, gây gổ. »
Thường nhạc công đi làm trong một dàn nhạc đêm nào cũng đàn thì lãnh luơng tháng (salaire). Nếu được mời đàn trong một số buổi rồi thôi thì lãnh tiền thù lao (cachet). Còn cả tháng mới có một hoặc hai lần, như đờn cho các buổi thâu thanh như buổi chúng tôi làm việc thì gọi la thù lao bất thường (affaires). Tất cả các mức lương tháng hay thù lao đều được qui định . Nhưng lần nào anh Lê Quang Tư cũng mời các nhạc công uống cà phê hay uống rượu lại còn cho thêm tiền nước nên các nhạc công rất thích. Như vậy cũng phải. Vì thuê phòng thâu trả tiền giờ. Thay vì phải 4 giờ đồng hồ mới xong, nếu khỏi bị thâu đi thâu lại, chỉ 3 giờ đồng hồ là xong. Tiền 1 giờ thuê phòng thâu thanh đủ làm vui cả dàn nhạc
Tôi không biết tổng số dĩa Oria là bao nhiêu vì anh Lê Quang Tư ngoài làm việc với tôi còn cộng tác với anh Thông , va một ngưòi khác Tôi chỉ thâu có 24 bài chia ra làm 14 dĩa vì có 4 bài dài phải hai mặt dĩa một bài như Hoà Bình 48, Liên hiệp quốc và Chúc Tết của Lê Thương và bài Yến tước tranh ngôn của cậu năm tôi là Cụ Nguyễn tri Khuơng, thì một mặt dĩa tôi ca, mặt bên kia tôi đờn cò độc tấu hoà với dàn nhạc nhẹ.
Tôi không có liên lạc với các nhóm khác làm việc với anh Lê Quang Tư nên không biết cô Thu Hương mà em Quốc có nghe tên.
Các dĩa Oria thất lạc . Tôi còn giữ dĩa riêng của tôi là dĩa không có bán trên thị trường, vì mỗi khi thâu thanh xong, trước khi ra dĩa bán, anh Lê Quang Tư cho tôi một dĩa in đặc biệt chỉ ghi tên bài hát và LQT ( Lê Quang Tư) số ….
Các dĩa ấy tôi cất vào một hộp riêng toàn dĩa 78 vòng Oria. Nhưng con trai tôi là Trần Quang Hải đã ghi dĩa hát lại trên một băng cối và đã chuyển thành 2 CD để giữ lại lâu tiếng đàn giọng ca của thời 1950 1951 lúc tôi còn là một bần sĩ hát thuê với bí danh là Hải Minh.

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23387372