Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghệ sĩ từ trần

Nguyễn Thị Minh Châu : Tưởng nhớ NS Đỗ Nhuận (1922 -1991)

 

 

Tưởng nhớ nhạc sĩ Đỗ Nhuận - vị tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam
10:22' 24/02/2004 (GMT+7)
Đỗ Nhuận (người được khoanh đỏ)

Số 25 trong tấm ảnh là nhạc sĩ Đỗ Nhuận, vị tổng thư ký đầu tiên và ròng rã 28 năm ở vị trí công tác ấy của Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Minh Châu đã gửi tới Giai Điệu Xanh bài viết về con người tài hoa này.

Sinh nǎm 1922, vào tháng 5 âm lịch, tháng nhuận, nên cậu con trai họ Đỗ đã được cha đặt cho cái tên Đỗ Nhuận. Khai sinh ngày 10/12/1922 thực ra chỉ là thủ tục trên giấy tờ khi đến tuổi đi học. Rời quê hương Cẩm Bình - Hải Hưng từ rất nhỏ, Đỗ Nhuận lớn lên ở thành phố Hải Phòng, nơi người cha phải phục vụ trong đội quân nhạc với vai trò “lính kèn Tây”.

In sâu vào ký ức tuổi thơ của Đỗ Nhuận không chỉ là những điệu kèn, những bài hát lính Tây. Cậu bé bị cuốn dần vào thế giới âm nhạc qua những điệu xẩm, điệu chèo “nhập tâm” được từ ông già mù thổi sáo bán lạc rang, những điệu cải lương vọng cổ từ một người hàng xóm thọt chân, những tiết tấu phường trống và bài ca cách mạng những nǎm 30 từ một thày giáo trường tư.

Tuổi thiếu niên, tuổi thanh niên của Ns. Đỗ Nhuận là cả một quá trình mầy mò tự học nhạc - học nhạc lý qua sách Tây, học đàn mandoline, banjo, kèn harmonica theo bè bạn, và sau này còn học thêm violon, baian với các nhạc công người Nga lưu vong ở Hà Nội. Sự tiếp xúc với phong trào Hướng đạo yêu nước, với bài hát tân nhạc và giới nhạc sĩ đang bước đầu khai phá con đường sáng tác nhạc mới đã thôi thúc nǎng khiếu sáng tác ở Đỗ Nhuận. Những thử nghiệm đầu tay ở tuổi 18-19 đều hướng về những nhân vật lịch sử: Hai bà Trưng, hai cha con Nguyễn Trãi - Phi Khanh qua các bài hát Trưng vương, Chim than, Lời cha già (1940), Đường lên ải Bắc (1941).

Khởi đầu sự nghiệp âm nhạc cũng là lúc chàng thanh niên Đỗ Nhuận bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Vì in và rải truyền đơn tuyên truyền cho cách mạng nên Đỗ Nhuận bị bắt giam vào nhà lao Hải Dương, rồi đưa lên Hỏa Lò (Hà Nội) và sau bị đày lên Sơn La (1943). Nơi đày đọa thể xác lại là nơi tôi luyện tinh thần, nhà tù trở thành trường học chính trị củng cố tư tưởng cho chàng nghệ sĩ trẻ. Là nhạc công chính với những nhạc cụ tự tạo trong ban nhạc nhà tù, Đỗ Nhuận không ngừng cất cao tiếng đàn tiếng hát giữa cảnh nhục hình, ốm đau và chết chóc. Chiều tù là tâm trạng đồng cảm với bài thơ Tâm tư trong tù của Tố Hữu. Côn Đảo là lời chia tay với anh em chính trị phạm đồng lao Hỏa Lò khi họ bị đày ra Côn Đảo. Hận Sơn La là cảm xúc trào dâng trên đường đi bộ lên Sơn La giữa đoàn tù bị xiềng xích. Những nét nhạc u buồn, uất hận, bi tráng trong những ngày tháng tù đày biến chuyển dần thành bước đi hùng mạnh, đầy tự tin của Du kích ca (1944) trong những đêm chuẩn bị vượt ngục.

Trở về cuộc sống tự do, với Đỗ Nhuận cũng là trở về với hai mục đích sống của đời ông: hoạt động cách mạng và hoạt động nghệ thuật. Cách mạng Tháng Tám 1945 đã nung nóng trái tim nghệ sĩ, biến chàng thanh niên đầy nhiệt huyết thành một người lính vǎn nghệ, một chiến sĩ âm nhạc của cách mạng. Con đường âm nhạc chuyên nghiệp bắt đầu với một loạt ca khúc khá phổ cập lúc bấy giờ: Nhớ chiến khu, Đường trường vô Nam (1945), Tiếng súng Nam Bộ, Bé yêu Bác Hồ, Ngày Quốc hội (1946)...

Những bài hát của Đỗ Nhuận trong chín nǎm kháng chiến lại tiếp tục nảy sinh từ những hoạt động tuyên truyền phục vụ cách mạng. Đánh đàn, ca hát, diễn kịch, làm báo, phụ trách đào tạo thiếu sinh quân... mọi thời kỳ công tác đều có những cảm xúc được ghi lại bằng âm nhạc. Đoàn lữ nhạc là bài ca hành động của đội vǎn nghệ Sao vàng đi biểu diễn lưu động trên các nẻo đường kháng chiến. Tình Việt Bắc (1947) là một cảm hứng trong thời gian làm báo ở chiến khu. Cũng giữa núi rừng chiến khu đã đơm hoa kết trái một loạt bài ca Lửa rừng (1947), Tiếng hát đầu quân, áo mùa đông, Thương binh ca, Đèo bông lau (1948) và trường ca bất hủ Du kích sông Thao (1949).

Nhạc sĩ Đỗ Nhuận (người bên phải)

Thời kỳ này, tinh thần và quan điểm sáng tác của Đỗ Nhuận với vai trò một người anh đi trước, đã ảnh hưởng rất lớn đến các nhạc sĩ lớp sau khi họ còn là học sinh Đoàn Thiếu sinh quân và Trường Lục quân Việt Nam, như Trần Quý, Lê Lan, Doãn Nho...

Những nǎm tháng hào hùng cuối cuộc kháng chiến chống Pháp đã để lại dấu ấn đặc biệt trong sự nghiệp sáng tác của Đỗ Nhuận. Hành quân xa (1953) được xuất thần từ một mệnh lệnh truyền đi trong đoàn bộ đội hành quân lên Tây Bắc: “Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi”. Trên đồi Him Lam (1954) cất lên trong đêm đánh trận đầu tiên mở đường máu cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Chiến thắng Điện Biên (1954) - hành khúc chiến thắng của cả dân tộc được khởi xướng trong trận cuối cùng, vào thời khắc lịch sử kết thúc chiến dịch vẻ vang. Cũng từ đó, Đỗ Nhuận chính thức được coi là một trong những người thông nguồn dẫn mạch cho hành khúc - một dòng chảy mạnh mẽ trong nền nhạc mới Việt Nam nửa sau thế kỷ XX. Nǎm 1955, chùm ca khúc Điện Biên Phủ của Đỗ Nhuận đã được trao giải nhất của Hội Vǎn nghệ Việt Nam. Cho đến nay, giai điệu Chiến thắng Điện Biên là một trong những nhạc hiệu quen thuộc của Đài phát thanh và Đài truyền hình. Lao động nghệ thuật của ông trong kháng chiến chống Pháp được ghi nhận bằng huân chương Lao động hạng II, huân chương Chiến sĩ hạng II, huân chương Chiến thắng hạng II.

Sau hòa bình 1954, sáng tác của Đỗ Nhuận tiếp tục gắn bó với cái chung, với thời cuộc. Nhiều bài hát của ông được phổ cập rộng rãi và được coi như “bài tủ” của quảng đại quần chúng vào thời điểm của chúng, như: Bài ca cách mạng tiến quân (1957), Việt Nam quê hương tôi (1961), Đồng chí ta ơi, Giặc đến nhà ta đánh, Thắm hoa núi rừng (1964), Trai anh hùng gái đảm đang (1965), Vui mở đường, Vì tiền tuyến (1966), Hát mừng các cụ dân quân (1967), Trông cây lại nhớ đến Người (1969), Em là thợ quét vôi (1973)...

Có lẽ Đỗ Nhuận là nhạc sĩ duy nhất trong thế hệ “đầu đàn” của âm nhạc cách mạng được học tập “có bài bản”, đó là thời kỳ ông được gửi sang thực tập tại Nhạc viện Tchaikovsky - Matxcơva (1960-1962). Mặc dù thời gian đào tạo mang tính chính quy mà ông được hưởng quá ngắn và quá muộn (khi ông bước sang tuổi “tứ thập bất hoặc”), nhưng nhạc sĩ cũng đã kịp củng cố thêm cho mình về chuyên môn cũng như niềm tin để làm một cuộc “chuyển mình” hướng đến những thể loại âm nhạc lớn hơn ca khúc.

Đỗ Nhuận đã có mặt trong lĩnh vực khí nhạc Việt Nam qua các tác phẩm: khúc biến tấu trên chủ đề dân ca cho flute và piano Mùa xuân trên rừng (1963), tứ tấu đàn dây Tây Nguyên (1964), ba biến tấu cho violon và piano (1964), tổ khúc giao hưởng Điện Biện (1965), giao hưởng thơ Đimit'rov (1981)... Ngoài ra, còn phải kể đến kịch múa rối Giấc mơ bé Rồng (1968), kịch múa Mở biển (1973) và nhạc nền trong các phim tài liệu và phim truyện: Chiến thắng Điện Biên (1954), Nguyễn Vǎn Trỗi (1965), Mở đường Trường Sơn (1972), Lǎng Bác Hồ (1975).

Về lĩnh vực nhạc kịch, phải nói rằng Đỗ Nhuận đã đóng vai trò đặc biệt trong sự khởi đầu của loại hình nghệ thuật tổng hợp này ở Việt Nam. Thực ra, ý tưởng về một hình thức âm nhạc sân khấu quy mô lớn phát triển từ chất liệu nhạc truyền thống đã nung nấu trong nhạc sĩ ngay từ đầu thập niên 50, là lúc ông được cử sang công tác ở Côn Sơn - Trung Quốc và được tiếp xúc với nghệ thuật ca kịch mới của nước bạn. Những thể nghiệm đầu tiên của ông xuất hiện trong những nǎm 50 là các ca kịch ngắn: Cả nhà thi đua, Sóng cả không ngã tay chèo, Anh Pǎn về bản, Hòn đá. Danh sách này còn được nối tiếp trong những nǎm 70-80 bằng các vở: Ai đẹp hơn ai?, Trước giờ cưới, Ông Đá, Chú Tễu, Đêm vui không ngủ, Quả dưa đỏ. Đặt nền móng cho thể loại nhạc kịch theo truyền thống của opéra phương Tây, nhạc sĩ đã dành nhiều thời gian và tâm lực vào việc xây dựng các vở: Cô Sao (1965), Người tạc tượng (1971), Nguyễn Trãi (1980 - nhân kỷ niệm 600 nǎm ngày sinh của Nguyễn Trãi). Nǎm 1965 với buổi công diễn nhạc kịch Cô Sao là một cột mốc đáng nhớ trong lịch sử nền âm nhạc mới Việt Nam.

Bên cạnh việc sáng tác, cuộc đời của nhạc sĩ Đỗ Nhuận còn là những chuỗi hoạt động không ngừng nghỉ để gây dựng Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông là người giữ cương vị tổng thư ký Hội trong khoảng thời gian dài nhất, kể từ ngày thành lập Hội nǎm 1958 đến nǎm 1983. Ngoài ra, ông còn đều đặn viết báo. Những bài viết và ghi chép của ông trong suốt ba thập niên 50-80 đã góp thêm một tiếng nói phê bình nghiêm khắc mà chân tình, bám sát thực tế mà không kém phần lãng mạn trong những dự định sáng tác cho tương lai.

Huân chương Lao động hạng Nhì được trao tặng cho nhạc sĩ Đỗ Nhuận khi ông đã lâm bệnh, nhưng vẫn tiếp tục viết hồi ký và không ngừng mơ ước đến vở opéra thứ tư của đời mình. Trái tim đầy nhiệt thành của ông ngưng đập vào một ngày tháng 5 nǎm 1991. Nǎm 1996, Đỗ Nhuận là một trong nǎm nhạc sĩ đầu tiên được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Ra đi, nhạc sĩ Đỗ Nhuận để lại cho đời hình ảnh một nhà hoạt động âm nhạc bền chí, hǎng say đến quên mình, có tài lãnh đạo nhưng dung dị và bình đẳng. Ông còn “gửi lại” cho đời người nối tiếp sự nghiệp của ông là con trai ông - nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân - với một niềm tin “con hơn cha là nhà có phúc”. Và hơn tất cả, ông đã để lại cho các thế hệ sau những tác phẩm mãi mãi gắn với một thời lịch sử hào hùng.

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23290222