Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

Doãn Mẫn : Viết về nhạc sĩ Lê Yên

 Lê Yên và tôi là đôi bạn học từ hồi nhỏ, đồng thời cũng là đôi bạn nhạc có nhiều kỉ niệm gắn bó với nhau trên con đường nghệ thuật trong hơn 50 năm qua. Tuy có những giai đoạn sống xa cách nhau nhưng lúc nào chúng tôi vẫn giữ nguyên tình bạn trong sáng, hồn nhiên, luôn luôn giúp đỡ, động viên nhau những lúc khó khăn, cùng nhau chia sẻ những vui buồn.

Nhớ về Ns. Lê Yên
08:25' 03/02/2006 (GMT+7)
Soạn: AM 692345 gửi đến 996 để nhận ảnh này
NS Dõan Mẫn

Nhạc sĩ Doãn Mẫn nhắn tôi sang chơi, ông kể: "VTV3 có mời dự chương trình "Ký ước thời gian" tôn vinh nhạc sĩ Hoàng Giác, nhưng mấy hôm nay thời tiết Hà Nội thay đổi nhiều, tôi bị mệt không đi dự được, thật tiếc! Nhạc sĩ thời kỳ đầu Tân nhạc chỉ còn có vài người và cũng đều qua tuổi 80 cả, mỗi lần xem chương trình trên TV, nghe các bài hát của bạn cũ, lại nhớ họ da diết. Ông lục trong tập tài liệu cũ đưa cho tôi bản thảo ông viết cách đây 15 năm, kể về một người bạn mà ông vô cùng yêu quý: Nhạc sĩ Lê Yên. Gương Thời Gian xin gửi đến các bạn bài hồi ký này.

Thuở ban đầu


Ngày ấy (1925), Yên học ở trường tiểu học Sinh Từ (phố Nguyễn Khuyến bây giờ). Là một cậu bé ít nói, rất hiền lành, Yên trông có vẻ như một cô gái, thường bị các bạn bắt nạt. Học chăm chỉ, không nghịch ngợm, và theo trí nhớ của tôi thì hầu như Yên chưa bao giờ ăn đòn của thầy Nguyễn Văn Mĩ vốn là người nghiêm khắc, dữ đòn. Ngay từ hồi đó, tôi vẫn thường bạn với Lê Yên, có lẽ hợp nhau vì tính tình cùng hiền lành, ít nói. Học cùng lớp với chúng tôi hồi đó còn có Trần Đình Thọ, sau này là hoạ sĩ và là hiệu trưởng trường Đại học Mĩ thuật.

Học xong tiểu học, tôi vào trường nam sư phạm, Yên học tiếp ở đâu, làm gì, tôi không được biết. Vào khoảng năm 1936-1937, khi phong trào âm nhạc cải cách phát triển, những ca khúc do người Việt Nam sáng tác xuất hiện thì tôi gặp lại Lê Yên, cũng không nhớ rõ trong hoàn cảnh nào. Chúng tôi rất vui được gặp lại nhau, nay cùng chung trí hướng trên con đường nghệ thuật mới mẻ này. Lúc đó, Yên ở phố Nguyễn Trãi, cạnh chợ Hàng Da (nay là phố Nguyễn Văn Tố), còn tôi ở ngõ Châu Hưng, gần ga Hàng Cỏ. Tôi thường đến nhà Yên, được biết ông cụ thân sinh ra Yên và các em Yên như Lê Lôi (sau này cũng là nhạc sĩ), các cô Quảng, cô Nhị và gia đình coi tôi như người nhà.

Yên và tôi thường bổ sung cho nhau về kiến thức âm nhạc, và kinh nghiệm sáng tác, trao đổi tác phẩm, vì lúc đó chúng tôi đều là những người tự học, hoàn toàn sáng tác theo bản năng. Đặc biệt ngay từ hồi này, Yên đã rất chú ý khai thác, có nhiều sáng tạo trong các bố cục bài hát, trong cách tiến hành giai điệu, không chịu đi vào những đường mòn của các ca khúc Pháp rất phổ biến lúc bấy giờ. Trong khi đó, nhiều anh em khác cũng có nhiều cố gắng đưa những nốt nhạc dân tộc vào tác phẩm của mình, nhưng dù sao ảnh hưởng của các ca khúc phương Tây vẫn còn rõ nét.

Có thể kể một số bài của Lê Yên có mầu sắc dân tộc hồi đó như: Vườn xuân, Một ngày vui, Tiếng sáo trưa hè, Mỵ Nương, Ngựa phi đường xa ... Ngay từ giai đoạn đầu của phong trào sáng tác nhạc mới, Lê Yên cũng như một số anh em khác: Nguyễn Xuân Khoát, Đặng Thế phong, Lê Thương ... đã có một số sáng tác bước đầu thể hiện rõ tính dân tộc.

Cũng trong thời gian này (1936-1939), chúng tôi có thêm một người bạn chí cốt: Văn Chung. Là công nhân một nhà in tư nhân phố hàng Điếu, cạnh rạp chiếu phim Olympia (rạp Hồng Hà ngày nay), Văn Chung là một con người tháo vát, có nhiều sáng kiến trong tổ chức biểu diễn và xuất bản, in ấn. Lúc đó anh cũng có nhiều ca khúc được phổ biến như: Khúc ca ban chiều, Thiếu phụ hoài xuân, Cười trong năng xuân, Đôi mắt huyền, Bóng ai qua thềm,.. v.v.. Ba chúng tôi thường tụ tập với nhau ở nhà Yên, gần nơi làm việc của Văn Chung, trao đổi, đóng góp với nhau về sáng tác, bàn việc tổ chức những buổi biểu diễn nhân dịp chiếu phim lấy tiền giúp đồng bào bão lụt hoặc các hội từ thiện.

Năm 1938, người ta thấy xuất hiện một bản nhạc in đầu tiên bán trên thị trường là bài “Hồ xưa”của Thẩm Oánh (trước đó chỉ một số ít bài hát trên các báo Phong Hoá, Ngày Nay, Tiểu thuyết Thứ bảy . . .). Văn Chung liền có ngay chủ trương in các bài hát của chúng tôi, đứng tên là nhà xuất bản Tricea và ba chúng tôi đương nhiên trở thành nhóm Tricea mà sau này giới âm nhạc thường nhắc đến (cùng các nhóm khác như nhóm Thẩm Oánh - Lương Thiệu Tước (Hà Nội), nhóm Lê Thương (Hải Phòng), nhóm Đặng Thế Phong - Bùi Công Kì (Nam Định) ..v.v..

Có thể nói Văn Chung là linh hồn của nhóm Tricea; mọi việc biểu diễn xuất bản đều do anh quán xuyến. Riêng việc in ấn,Văn Chung có thuận lợi là làm ở nhà in nên tự tay chép nhạc trên bàn in litho, chọn giấy tốt, nhờ hoạ sĩ trang trí bìa. Các bản nhạc in ra được trình bày tao nhã, các nốt, các kí hiệu nhạc sáng sủa, rõ nét, trông không kém gì mấy so với bản nhạc nước ngoài. Trong khi đó bản nhạc của các nhóm khác đều khắc gỗ, hình nốt méo mó, không rõ và thường có nhiều lỗi in.

Số lượng Tricea in ra thường chỉ từ 1.500 đến 2.000 bản là nhiều, bán hết ngay, thu lại vốn nhanh để tranh thủ in tiết các bài sau. Về việc in, không biết Văn Chung vay mượn của ai, vì chúng tôi biết anh cũng không có tiền, với số lượng công nhân ít ỏi. In xong, cũng do anh đưa phát hành tại các cửa hàng sách, hiệu đàn và sau một thời gian thì đi thu tiền về. Lê Yên và tôi hầu như không quan tâm đến vấn đề tiền nong và cũng chẳng lấy tiền bản quyền tác giả, nhưng chắc chắn là không có việc lợi dụng nhau trong việc xuất bản này, miễn là thấy các bài hát của nhóm được ra mắt công chúng là tốt rồi.

Sau đây là trình tự xuất bản các bài hát của nhóm Tricea:

1_Khúc ca ban chiều (Văn Chung)
2_Vườn xuân (Lê Yên)
3_Gió thu (Doãn Mẫn)
4_Nhớ quê hương (Phạm Ngữ)
5_Đôi mắt huyền (Văn Chung)
6_Cười trong nắng xuân (Văn Chung)..v.v..

Đây cũng là những bài hát cải cách đầu tiên được in và bán trên thị trường.

Về biểu diễn các bài hát mới sáng tác, trong thời gian này thường được tổ chức trong các gia đình, nhưng nổi bật nhất là trong những dịp diễn kết hợp với các buổi chiếu phim lấy tiền giúp đòng bào bị bão lụt hoặc giúp các hội từ thiện như Hội Truyền bá quốc ngữ, Hội Ánh sáng, ..v.v.. Cần nhắc lại ở đây đợt biểu diễn một tuần tại Fardin d’eufants (nay là địa điểm bưu điện Bờ Hồ) nhân chợ phiên giúp đồng bào bão lụt. Nhóm Tricea đảm nhiệm một tốp biểu diễn, chiều tối ngồi trên xe ôtô hát và diễu quanh hồ Hoàn Kiếm, ăn mặc đồng phục (sơ mi xanh, mũ calô trắng). Văn Chung là người thay mặt nhóm Tricea trong ban tổ chức các buổi biểu diễn. Có khi anh tự hát các bài của nhóm hoặc mời thêm một số anh chị em ca sĩ, nhạc công khác tham gia.

Sau những buổi biểu diễn, các báo hàng ngày như Tin Mới, Trung Bắc tân văn . . . đều có những bài tường thuật dài, tỉ mỉ đầy thiện cảm, làm cho cuộc sông âm nhạc ở Hà Nội hồi đó thêm sôi động. Cùng với việc xuất bản, những buổi biểu diễn nói trên có tác dụng phổ biến rất nhanh những bài hát do người Vuệt Nam sáng tác, một hiên tượng rất mới mẻ lúc đó, và không ai ngờ rằng đây là giai đoạn đầu của nền âm nhạc mới của chúng ta sau này.

Rất đáng tiếc là Văn Chung đã sớm vĩnh biệt chúng ta (tháng 8 năm1984); nếu còn sống, chắc anh có thể cung cấp nhiều tài liệu lí thú về những hoạt động của nhóm Tricea, cũng như phong trào âm nhạc cải cách nói chung trong giai đoạn này.

Vào khoảng 1939-1940, vì lý do sinh kế mỗi người đi một nơi: người ở Hà Nội thì đi làm công chức, người theo các đoàn kịch đi biểu diễn các tỉnh, người chơi đàn ở các phòng trà, tiệm nhảy, nhóm Tricea tự động giải tán. 

Trên đường kháng chiến.

Rồi Cách mạng tháng 8, kháng chiến toàn quốc, anh em nhạc sĩ ở thủ đô mỗi người phân tán đi một ngả. . Mãi đến đầu năm 1952, Lê Yên và tôi lại được công tác cùng nhau ở đoàn Văn công Nhân dân Trung ương (thuộc Nha Tuyên truyền và Văn nghệ). Đoàn hồi đó mới được thành lập, biên chế khoảng trên 20 người. Đây là một đoàn nghệ thuật tổng hợp gồm cả kịch nói, chèo và ca múa nhạc.

Tổ kịch có các anh Thế Lữ, Trần Hoài, Trần Bảng, các chị Song Kim, Lệ Thanh. . .Tổ chèo có vợ chồng bác Năm Ngũ, chị Dịu Hương. . . Tổ ca múa nhạc chúng tôi có Lê Yên, Thái Ly, Trần Phương, Xuân Phương, Nguyễn Đình Tích, Mai Khanh và tôi. Đến đầu năm 1953, tuyển được thêm Bùi Đức Hạnh và Sơn Tùng, đồng thời tiếp nhận một số anh em vừa đi học ở Trung Quốc về như Hoàng Kiều, Chu Minh, Hoàng Châu.

Đây đang ở giai đoạn phát động giảm tô và cải cách ruộng đất. Lê Yên và tôi cộng tác sáng tác ba ca cảnh: Đi dân công, Gia đình cụ Cán đi bình nghị Chiếc áo trắng được bà con nông dân hết sức hoan nghênh vì các vở đi sát yêu cầu phục vụ lúc đó.

Về biểu diễn, anh em tự đóng các vai, nếu thiếu thì có sự viện trợ của tổ kịch và tổ chèo. Ban nhạc đệm thì rất đơn sơ và thiếu thốn: Lê Yên sử dụng mandoline, mà chỉ có 3 dây (thiếu dây mua mãi không được!), lại đánh bằng tay trái, Mai Khanh và tôi (guitar), Trần Phương và Xuân Phương (tiêu, sáo tre.). Lúc lên sân khấu đóng vai và hát, khi vào lại đánh đàn. Quần áo, trang trí sân khấu, anh em tự xoay xở; thao vát và khéo léo nhất trong công việc này là Thái Ly và Xuân Phương. Các tiết mục đơn ca đều do Mai Khanh đảm nhiệm, trong đó bài “Bộ đội về làng” của Lê Yên được trình bài nhiều lần, có lẽ do đó mà được phổ biến mau chóng ở Việt Bắc, sau khi ở Khu 4, nhiều người đã được xem thưởng thức rất nồng nhiệt và cùng hát theo.

Cuối năm 1953, do hoàn cảnh riêng, tôi phải xin chuyển công tác về Khu Tuyên truyền Tây Bắc, ở Nghĩa Lộ (Yên Bái). Thế là Lê Yên và tôi lại xa nhau, nhưng hình như có một duyên nợ nào đó đã gắn bó chúng tôi lại với nhau: Sau tiếp quản thủ đô, đầu năm 1955 tôi về Hà Nội, lại cùng công tác với Lê Yên ở Ban Nhạc vũ Trung ương (thuộc Hội Văn nghệ Việt Nam) và sau đó ít lâu, cả hai chúng tôi đều được chuyển về giảng dậy tại Trường Âm nhạc Việt Nam (nay là Nhạc viện Hà Nội) trong một thời gian khá dài từ 1956 đến 1972.

Môi trường đào tạo cán bộ đã thúc đẩy Lê Yên và tôi viết cuốn “Phương pháp guitar thực hành” cho Nhà xuất bản Xây dựng: Yên phụ trách phần đầu về nhạc lý cơ bản, tôi viêt phần 2 về kĩ thuật sử dụng đàn và các bài tập, các bài thực hành.

Tôi đã hoàn thành phần của mình, nhưng Yên do còn nhận hợp đồng làm song song một số việc khác nên cứ lần khân. Nhà xuất bản cho người đến thúc tôi, tôi lại đến thúc Lê Yên. Mỗi lần tôi đến, Yên mới lấy tập bản thảo trong ngăn kéo ra và viết tiếp. Tôi ngồi chơi, chờ đợi; khi tôi về, Yên lại cất vào ngăn kéo, và cứ thế, cứ thế kéo dài, đến khi Yên viết xong thì thôi. Thật là quá vất vả với ông bạn chí cốt với tác phong làm việc thiếu khẩn trương! Nhưng được cái mừng là sách in ra, bán hết ngay do phương pháp dễ hiểu, đi ngay vào thực hành. Đặc biệt phần kí âm pháp do Yên viết nôm na, dí dỏm, người mới học dễ tiếp thu, như một ông thầy luôn ngồi bên cạnh, thân mật hướng dẫn. Đây cũng là cách viết của Lê Yên, rất độc đáo, còn được áp dụng sau này trong hai cuốn sách dậy nhạc phổ thông khác là “Đô Rê Mi” và “Đô Rê Mi bổ túc”, đến nay nhiều nhười còn nhắc đến.

Cũng trong lĩnh vực đào tạo, ngoài các giáo trình dạy sáng tác, dạy hoà thanh dân tộc ở Trường Âm nhạc Việt Nam trong đó có nhiều tìm tòi sáng tạo, Lê Yên còn viết cuốn “Kinh nghiệm phổ thơ” được anh em sáng tác rất chú ý vì đã nêu ra nhiều thủ pháp mới, dựa vào ngôn ngữ âm nhạc truyền thống để việc phổ nhạc được lưu loát cả về phần nhạc lẫn phần lời, tránh được tình trạng đơn điệu trong giai điệu do quá bị lệ thuộc vào lời thơ, như nhiều anh em mắc phải khi phổ nhạc cho thơ.

Để chứng minh lý luận của mình, Lê Yên phổ bài thơ “Nhớ” của Thanh Hải, sử dụng và phát triển nét nhạc của bài dân ca Tây Nguyên “Đợi chờ”, bài này rất được hoan nghênh, qua phát thanh viên Đài THVN, và đến nay thỉnh thoảng vẫn được thính giả yêu cầu phát lại. Có thể nói, trong giới nhạc sĩ sáng tác, Lê Yên là một trong những người thành công nhất cho việc phổ nhạc cho thơ.

Trong lĩnh vực cải tiến nhạc cụ, cũng vì say mê âm nhạc truyền thống, năm 1968-1969, khi còn ở Trường Âm nhạc Việt Nam, anh đề xuất cải tiến đàn piano có thể nhấn rung được, do đó có thể chơi các bản nhạc dân tộc trên đàn piano cải tiến, đảm bảo phong cách dân tộc, không khô cứng như khi chơi trên chiếc piano thông thường. Dù anh đã hết sức thuyết phục và được một số nhà khoa học bên ngoài ủng hộ, Hội đồng chuyên môn nhà trường vẫn phản bác, cho là viển vông, phiêu lưu. Từ đó, “chiếc pianô nhấn rung của ông Lê Yên” trở thành một câu chuyện hài hước trong trường, và sau đó lan ra cả giới nhạc bên ngoài.

Tuy nhiên, kiên trì trong sự tiến tới của mình, Lê Yên vẫn tiếp tục đầu tư suy nghĩ, hoàn chỉnh bản thiết kế. Được sự cộng tác, động viên của một số bạn trong Nam, anh đang giành nhiều thời gian, sức lực vào công việc này, và có dự kiến một khi sang chế được nhạc cụ theo ý muốn, anh cùng một số người ủng hộ, sẽ mở trường dạy loại nhạc cụ mới mẻ nay với phương pháp và giáo trình thích hợp.

Tôi mong Lê Yên sẽ thành công, vì theo kinh nghiệm sống và làm việc bên nhau khá lâu, anh tuy có hình dáng mảnh khảnh, tính hiền, tác phong chậm chạp, nhưng bên trong ẩn giấu nhiều ý nghĩ táo bạo, luôn luôn đổi mới, không chịu đi vào những vết mòn cũ, do đó đã có nhiều thành công trong sáng tác, cũng như nghiên cứu âm nhạc. Ở đây cũng xin mở một dấu ngoặc: Trong những thành công của Lê Yên, sẽ rất thiếu sót nếu không kể đến sự hỗ trợ bền bỉ của người bạn đời của anh. Thông cảm với tính chất công việc của một nhạc sĩ, chị hầu như đã đảm nhiệm toàn bộ việc nhà. Ngoài công việc bề bộn của cơ quan, do sức khoẻ kém, chị đã dành cho anh nhiều thì giờ thanh thản để hoàn thành công trình.

Tiếp tục đi theo con đường khai thác vốn âm nhạc truyền thống có sáng tạo, trong những năm gần đây, mặc đã về nghỉ, tuổi già, sức yếu, anh vẫn được nhiều đoàn tuồng, chèo đến đặt viết nhạc cho các buổi biểu diễn, và vẫn bền bỉ, say mê sáng tác có kết quả, được các đoàn đánh giá cao.

Nhớ mãi Lê Yên

Đối với tôi, Lê Yên mãi mãi là một người bạn học tốt thời thơ ấu, một người đồng nghiệp chân thành, kể từ ngày dắt díu nhau đi chập chững trên con đường sáng tác âm nhạc, đầy bỡ ngỡ, khó khăn. Kỷ niệm thì thật nhiều, vui có, buồn có, nhưng ở đây chỉ xin kết thúc bài hồi kí này bằng một mẩu chuyện nhỏ mà hai chúng tôi còn nhớ mãi cho đến ngày nay, và càng nhớ, chúng tôi càng thấy gắn bó và yêu quý nhau hơn.

Năm 1935, Lê Yên sáng tác bài “Bẽ bàng”. Làm gần xong, chỉ còn 8 nhịp cuối, không biết kết thế nào cho ổn, vì lẽ đó mà bài hát bị bỏ dở khá lâu. Một hôm tôi đến thăm Lê Yên, anh tỏ nỗi băn khoăn của mình về cái kết, phải làm thế nào cho trôi chảy, hợp lý, phải có một sự thay đổi, “phá rào” nào đó trong giai điệu để kết một cách thoải mái mà không trối. Lê Yên xuống âm lên đến quãng kết là chỗ đang bí thì tôi tức khắc ứng biến 8 nhịp “theo kiểu của tôi” thì Lê Yên thú quá, chấp nhận ngay và bài hát được hoàn thành. Bài hát này hồi đó tuy chưa được xuất bản nhưng đã khá phổ biến, được nhiều người chép lại, được biểu diễn nhiều lần ở các phòng trà, tiệm nhảy.

Sau này trong Nam, bài hát đó đã được thu băng, phát trên đài, được nhiều người công nhận là một trong những bài hát trữ tình hay của thời “tiền chiến”. Lê Yên, mỗi khi nhớ lại kỉ niệm này, thường nói là còn “nợ” tôi 8 nhịp mà không biết đến khi nào mới trả được.

Nhưng hiện nay, Lê Yên không còn băn khoăn nữa, vì món “nợ” đó đã được trả, nhưng mãi sau đó ... 20 năm! Năm 1955, sau khi cải cách ruộng đất về, tôi sáng tác bài “Gọi nghé trên đồng” cũng đến 8 nhịp cuối là bí, chưa biết xoay xở ra sao, trong khi phải hoàn thành gấp để đưa Nhà xuất bản Văn nghệ in theo kế hoạch. Tình cờ đến trụ sở Ban Nhạc vũ Trung ương có việc, tôi thấy Lê Yên đang ngồi xếp chân vòng tròn ư ử nhẩm lại bài “Bữa cơm chiều” mà anh vừa hoàn thành. Đây cũng là một bản nhạc phổ thơ khá thành công. Tôi ngồi nghe anh hát, sau đó bày tỏ băn khoăn về bài hát của mình sáng tác gần xong mà chưa biết kết thế nào cho ổn. Sau khi nghe tôi xướng âm đến chỗ bí thì Lê Yên đọc tiếp ngay 8 nhịp cuối. Lòng tôi tràn đầy phấn khởi vì thấy rất hài hoà, hợp lý cho một bài hát mang phong cách dân ca đồng bằng Bắc bộ, nhất là lại thêm hai cái nghịch phách (contretémp) rất dân tộc và độc đáo. Chúng tôi đều cười vui vẻ, Lê Yên lúc đó mới nói : “Thế là sau mấy chục năm, tớ mới trả nợ được cho cậu !”

Món nợ chúng tôi đã thanh toán với nhau sòng phẳng, nhưng tình bạn, tình đồng nghiệp giữa chúng tôi mãi mãi vững bền và trong sáng, với những kỉ niệm êm đềm những ngày thơ ấu, với những vui buồn cùng chia sẻ trên con đường hoạt động âm nhạc đầy vất vả, khó khăn, nhưng cũng có nhiều giây phút sôi nổi và hào hứng .

Doãn Mẫn

(Viết nhân dịp nghỉ an dưỡng cùng với Ns. Lê Yên tại Đầm Vạc (Vĩnh Phú) tháng 9 năm 1989)

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23384017