Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghệ sĩ từ trần

Văn Cao (1923 - 1995), nhạc sĩ VN, Việt Nam

 Sinh ngày: 15-11-1923. Mất ngày: 10-07-1995.
Nhạc sĩ Văn Cao đã hoạt động hăng say cho cách mạng từ trước Cách mạng Tháng Tám, người đã viết theo yêu cầu của cách mạng một bài hát cho Trường quân chính kháng Nhật: Bài Tiến quân ca. Tháng 11-1944, bài hát được Văn Cao tự tay khắc in trên báo Độc lập, và khi về Hà Nội, một hôm qua phố Mai Hắc Đế, ông nghe có người chơi đàn măng-đô-lin bản nhạc ấy. "Tôi dừng lại và tự nhiên thấy xúc động, có thể những người cùng khổ mà tôi đã gặp trên bước đường cùng khổ của tôi, lúc này đang cầm súng và đang hát" (Trích hồi ký "Tại sao tôi viết Tiến quân ca").

Nhạc sĩ Văn Cao - Tác giả Quốc ca

Ngày 17-8-1945, trong cuộc mít-tinh của nhân dân Hà Nội, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên trên Nhà hát lớn và vang lên tiếng hát "Tiến quân ca", Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn bản nhạc ấy làm Quốc ca cho người Việt Nam mới và sau đó đã được Quốc hội chính thức phê chuẩn. Anh vệ quốc quân, chị cán bộ trên núi rừng Việt Bắc, các má trong bưng biền Nam Bộ, người tù Côn Đảo, Phú Quốc, Tổng Nha, Phú Lợi, Thừa Phủ, mỗi lần hát Quốc ca là hát lên hồn thiêng sông núi, để đi đến hy sinh mà không tiếc thân mình: "Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước. Đứng đều lên gông xích ta đập tan".

Nhắc đến Văn Cao là nhắc đến Tiến quân ca hùng tráng và bất diệt. Con người nhỏ nhẹ hiền từ ấy chứa trong hồn mình khát vọng và tâm huyết của cả một dân tộc nô lệ đang sắp sửa vùng lên. Nửa thế kỷ đã qua, đến hôm nay mỗi khi nghe khúc nhạc ấy vang lên, ta lại thầm cảm ơn Văn Cao, người đã viết cho dân tộc khúc ca hùng tráng ấy.

Văn Cao sinh ngày 15-11-1923. Vào năm 1939, 16 tuổi, ông viết Buồn tàn thu rồi sau đó là Thiên thai (1941), Bến xuân (1942), Cung đàn xưa (1942); Suối mơ (1943), Trương Chi (1943). Một dòng suối nhạc tình trào tuôn từ trái tim của chàng trai rất nhát gái, chưa hề được yêu, chưa hề được nắm tay một người con gái nào (Tâm sự của ông trong phỏng vấn ngày 28-7-1993)). Đó có lẽ cũng là một lối thoát ra khỏi những bế tắc của một thanh niên mất nước nhưng đầy khát vọng. Thế giới nhạc và lời thơ ấy tuy buồn, nhưng đó là cái buồn trong sáng, thơ ngây, không chút vẩn đục, tục lụy. Cũng không bài tình ca nào của ông buồn da diết suốt bài, mà nhịp luôn biến đổi khi buồn, khi ai oán, khi rít rít, khi lâng lâng nhẹ nhàng, phối hợp với lời thơ của thi sĩ Văn Cao hoàn chỉnh trong từng tác phẩm một. Chính vì thế mà đến ngày nay, những tác phẩm ấy vẫn có thể làm say lòng người và nâng hồn người lên một thế giới tinh khiết. Thiên thaiTrương Chi là những đỉnh cao trong dòng nhạc lãng mạn nhưng cũng chính từ những đỉnh này, Văn Cao đã dứt khoát đi vào cách mạng. Thiên thai là một giấc mơ giữa cuộc đời ô trọc lúc đó, còn Trương Chi là câu chuyện tình tan vỡ giữa một nghệ sĩ và một cô gái quý tộc và chính Văn Cao đã cảm thấy sự phân cực xã hội đã ảnh hưởng đến tình yêu như thế nào: "Đàn đêm thâu... trách ai khinh nghèo quên nhau"...

Bên cạnh thế giới nhạc lãng mạn là những bài hát yêu nước tràn đầy khí phách: Gò Đống Đa, Thăng Long hành khúc. Những bài ca hâm nóng nhiệt huyết của cả một thế hệ và đưa đến Tiến quân ca, Sông Lô, Tiến về Hà Nội sau này.

Âm điệu lãng mạn đã đưa Văn Cao đến thế giới của tình ca, nhưng cũng chính đôi cánh lãng mạn ấy cộng với nhiệt huyết yêu nước đã nâng hồn ông lên những hành khúc gọi hồn nước, gọi hồn thanh niên một thời: "Ôi Thăng Long, ôi Thăng Long, ôi Thăng Long ngày mai xây đắp dưới vinh quang bằng chí khí anh hùng..."

Văn Cao, con người mơ mộng ấy thả hồn mình bay xa thực tại khi làm bài hát: Hải quân Việt Nam, Không quân Việt Nam vào năm ấy. Cái tình của ông đối với quân đội, với cách mạng, khát vọng của ông đã làm ông đi trước thực tế đến vài chục năm. Rồi kháng chiến toàn quốc, Văn Cao lên Việt Bắc, ở đó có Làng tôi, Ngày mai... những ca khúc thắm đượm tình yêu thương đối với làng quê rơm rạ, làng quê du kích... Trái tim lãng mạn xưa đã mở ra cùng một thế giới cảm xúc, nó khác với Bến xuânSuối mơ của giấc mơ huyền ảo xưa. Bây giờ là chiến tranh, là chiến trận, là hy sinh mất mát, là tình cảm của nhân dân. Nhạc của ông giờ đây ngát đầy hương lúa mới, những cánh đồng quê trong máu lửa, nó là bản "giao hưởng đồng nội" trong tâm hồn nhạc sĩ.

Ngay trong những năm đầu kháng chiến, Văn Cao đã mơ ngày quân ta tiến về Hà Nội. Phải 5-6 năm sau, điều mơ ước ấy mới trở thành hiện thực. Nghệ thuật kỳ diệu, bằng giấc mơ, nó đã sáng tạo ra thực tại của nó, và ở một nghệ sĩ lớn thì thực tại nghệ thuật và thực tại cuộc sống luôn bổ sung nhau, chan hòa cùng nhau: "Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh"...

Nhưng tất cả những bản nhạc ấy đều chỉ là những ca khúc nhỏ bên cạnh bản Sông Lô hoành tráng. Mở đầu bản nhạc Văn Cao đã đưa ta vào cái không khí đầy chất thơ huyền thoại của Việt Bắc: "Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u. Thu ru bến sóng vàng, từng nhà mờ biếc chìm một mầu khói thu"... Tiếp đó là một sông Lô kháng chiến và kháng chiến đã chuyển nhạc từ nét chậm rãi, mênh mang đến dồn dập, mãnh liệt: "Vui hát ca òa vui hát ca, hòa dân buông lưới... Đời vun vút lên, đời vui sướng về... Rung trong bao hương đồng mừng một mùa chiến công". Rồi đến đoạn cuối, dòng sông Lô lại trôi đi trong một nhịp điệu khoan thai, êm đềm, tha thiết: Dòng sông Lô trôi. Dòng sông Lô trôi, Mùa xuân tới, nước băng qua ngàn, nước in ven bờ xanh in bóng tre. Dòng sông Lô trôi...".

Năm đó là năm 1947, Văn Cao mới 24 tuổi. Sông Lô là một trường ca của nhạc, của thơ và của sắc mầu hội họa. Sông Lô là một thể nghiệm thành công về một nhạc cảnh mà hơi nhạc, như ông đã tự nhận, có ảnh hưởng chất hùng tráng của nhạc Bethoven. Sông Lô đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam như một chiến công lớn của nghệ thuật bên cạnh chiến công lớn của quân dân ta trong thời chống Pháp. Và nó vĩnh viễn ở lại trong lòng người.

Văn Cao đa tài, đa cảm, ông có khát vọng muốn thành công ở nhiều lĩnh vực: nhạc, thơ, họa. Thơ của ông từ Chiếc xe xác đi qua phường Dạ Lạc trở về sau có nhiều nét biến đổi mới, thể hiện một sự tìm về nội tâm. Hội họa của ông, đặc biệt là tranh minh hoạ có phong cách riêng. Nhưng nhắc đến Văn Cao, người ta nhắc đến nhạc. Trong nửa thế kỷ qua, ông là nhạc sĩ lớn.

Ông ra đi, thế giới nghệ thuật của ông vẫn còn đó để nhiều thế hệ còn đắm say, còn tiếp tục yêu ông, một tình yêu sáng trong, cao cả như tâm hồn và âm nhạc của ông.

Ngô Ngọc Ngũ Long

http://www.nhipcauamnhac.saigonnet.vn/vie/news_detail.asp?period_id=1&cat_id=3&news_id=167 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23294573