Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » CA TRU

Chiến Thắng : Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện: "Ca trù đích thực giờ chỉ còn trong... băng đĩa"

(LĐCT) - Tôi từng được nghe Nguyễn Xuân Diện ngẫu hứng hát ca trù ở bên bờ biển Đà Nẵng, một không gian có thể nói là không hợp chút nào với thể loại "ca nhạc thính phòng cổ của Việt Nam" này.

http://www.laodong.com.vn/Home/Ca-tru-dich-thuc-gio-chi-con-trong-bang-dia/200910/159472.laodong

 

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện:
"Ca trù đích thực giờ chỉ còn trong... băng đĩa"

 

Lao Động Cuối tuần số 42 Ngày 18/10/2009 Cập nhật: 7:11 AM, 18/10/2009
Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện.
(LĐCT) - Tôi từng được nghe Nguyễn Xuân Diện ngẫu hứng hát ca trù ở bên bờ biển Đà Nẵng, một không gian có thể nói là không hợp chút nào với thể loại "ca nhạc thính phòng cổ của Việt Nam" này.
Ấy vậy mà khi những lời ca của anh cất lên thì dường như anh đã thả hồn mình vào với những luyến láy tinh vi của ca trù... Là người Việt Nam đầu tiên làm luận án tiến sĩ về ca trù, bản luận văn của Nguyễn Xuân Diện đã được đưa vào hồ sơ để đệ trình lên UNESCO. Nhiều lần tiếp xúc với Xuân Diện sau này, tôi biết, khó có thể tìm thấy một người nào yêu ca trù như anh.

Nguyễn Xuân Diện say sưa kể: "Khác với hát nghệ thuật chèo, hát văn, là câu chuyện tự sự, ca trù, là bài thơ ca ngợi công đức các vị thần thánh, bài thơ tả nỗi lòng, hay gửi gắm tâm sự trước thời cuộc, núi sông, hoặc mối tình nào đó… Đào nương chỉ ngồi yên lặng trên một mảnh chiếu cạp điều, gần như bất động suốt từ đầu đến cuối cuộc hát. Họ không cười nói, miệng hát không mở to, tâm hồn tập trung hết vào giọng hát và cỗ phách.
Hát sao cho phải nắm được tình ý của bài thơ để phô diễn tâm trạng và sự tinh tế của từng con chữ. Trước đây, người nghe chính là người làm ra bài hát đó, thẩm bình tiếng hát đó, thẩm bình tiếng phách đó. Trên các tài liệu Hán Nôm chữ "trù" trong "ca trù" là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng trống chầu (gọi là cầm chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi ca trù".

Sau khi ca trù của Việt Nam vừa được UNESCO ghi vào Danh sách Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp, tôi gọi ngay cho Nguyễn Xuân Diện để chia vui. Những tưởng anh sẽ hồ hởi lắm, nhưng anh "chấn chỉnh" ngay: "Tôi mừng, chứ không vui".

"Tôi mừng vì từ đây ca trù của Việt Nam đã chính thức được thế giới ghi nhận là một di sản quý giá mà Việt Nam đóng góp vào kho tàng văn hoá nhân loại. Nhưng cũng nói lên một điều là ta có một kho di sản quý giá, nhưng đã không được bảo vệ, gìn giữ, mà thậm chí bị vùi dập trong suốt gần một thế kỷ qua. Giáo sư Trần Văn Khê, khi nghe tin, đã nói với tôi: UNESCO đã đánh giá ca trù của Việt Nam dựa trên hồ sơ. Mà ca trù  ngày nay khác với xưa nhiều lắm. Nghĩa là nó không còn được vẹn nguyên trong thực tế nữa. Chỉ có trong hồ sơ thôi.

Những người nghe ca trù nhiều như tôi, giờ muốn thưởng thức ca trù thực sự, để cảm thụ trọn vẹn sự tinh tế trong tiếng đàn tiếng hát, tiếng phách của đào nương, chỉ còn mỗi cách là mở băng chứ không đi nghe ai được hết. Ca trù đích thực giờ chỉ còn trong… băng đĩa".

Nhưng ít nhất, đến giờ này, chúng ta đã có ý thức về việc phải cứu lấy ca trù. Theo anh, ca trù đang ở giai đoạn nào của quá trình cần được cấp cứu?

- Nói thật là ca trù đang hấp hối. Các đào nương giờ còn lại rất ít, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Năm 2006, cả nước ta có 21 người. Hiện chỉ còn hơn 10 nghệ sĩ. Họ đã đều ở độ tuổi thất thập. Những người này giỏi lắm mỗi người chỉ nắm được 15 điệu ca trù. Mà theo thư tịch cổ thì ca trù có tất cả 99 thể cách. Các tài liệu và băng đĩa hiện nay giữ lại được 26 điệu. Mất mát nhiều lắm. Nhiều cái không thể phục hồi nổi nữa.
Trước đây, ca trù đã từng trở nên vô cùng phổ biến, xâm nhập vào mọi mặt của đời sống... Vậy tại sao một thời gian sau đó, môn này lại bị quên lãng, thậm chí ghét bỏ?

- Những năm 1930-1945, phố phường Hà Nội có nhiều nhà hát (ca quán) cô đầu. Ước tính có khoảng 2.000 cô đầu và hơn 200 nhà hát ở Hà Nội. Những cô đầu đến hát bao giờ cũng đi theo gia đình. Thường là chồng đàn vợ hát, hay anh đàn em hát. Họ chỉ là "ca sĩ" đơn thuần.

Nhưng trong ca quán, khi thưởng thức văn chương nghệ thuật, phải có trà, phải có rượu, phải có đồ ăn đồ uống. Vì vậy phải có tiếp viên, những người hầu rượu rót rượu, tiêm thuốc, nấu nướng, thậm chí phục vụ nhu cầu thư giãn thể xác. Ác thay, những tiếp viên trong ca quán đó cũng được gọi là cô đầu. Đi hát cô đầu dần dần được cho là hình thức thiếu lành mạnh.

Do đó bây giờ rất cần xã hội hiểu đúng, chiêu tuyết cho những nghệ sĩ đã đem tiếng hát và tuổi thanh xuân của mình dâng tặng cho những khách tri âm tri kỷ, và chiêu tuyết cho một bộ môn nghệ thuật đẹp, đã tạc dấu ấn trong văn hoá Việt Nam.

Theo anh, để "bảo vệ khẩn cấp" hay tiến tới là phục hồi ca trù thì việc cấp bách nhất phải làm là gì?

- Muốn phục hồi lại ca trù phải phục hồi được chủ thể của ca trù là người hát (đào), người đàn (kép) và người nghe (trước đây là các quan viên, giờ là công chúng). Cần khuyến khích các đào nương truyền nghề lại cho thế hệ trẻ, dạy đàn, dạy gõ phách, dạy cả công chúng biết cách cầm chầu để thưởng thức. Tuy nhiên, cách thức truyền dạy phải đúng theo lối cổ hồi xưa, các cụ gọi là "bắt tay chỉ ngón".  Không thể đào tạo ào ào được.

Hiện nay, bằng cách này hay cách khác, các nghệ nhân xưa vẫn cứ truyền dạy cho các học trò của mình. Nhưng họ không hề được quan tâm, không có một chế độ gì cả. Trong khi đó, người ta mở các cuộc liên hoan, tốn kém cả vài trăm triệu, thậm chí hàng tỉ đồng, nhưng không bỏ ra được một số tiền nhỏ cho các nghệ nhân độ nhật. Những nghệ nhân này không có biên chế, họ ở vùng quê, họ đang không hề có thẻ bảo hiểm y tế và đang nối tiếp nhau đi về nơi suối vàng.

Có lẽ sau khi UNESCO công nhận ca trù, tình hình sẽ thay đổi?

- Tôi cũng hy vọng như vậy. Nhưng tôi nghĩ rằng, ngành văn hoá mình từ xưa đến nay là thế. Họ thích làm việc theo kiểu dự án. Dự án thì phải có thời gian hoàn thành. Nhưng nghệ thuật không thể cấp bách như vậy được. Chẳng hạn, một quỹ nước ngoài tài trợ cho ca trù 50.000USD. Người ta tổ chức được 65 học viên của 14 tỉnh thành về Nhạc viện Hà Nội học, đào tạo ca trù cấp tốc trong 2 tháng. 2 tháng làm sao học được ca trù?

Nhưng phải thừa nhận một thực tế rằng, trào lưu của xã hội bây giờ đã thay đổi. Văn hoá "xem" được đề cao. Làm sao để thu hút khán giả đến với "chiếu ca trù", với các đào nương ăn mặc kín đáo và ngồi bất động?

- Trước đây, ca trù phát triển cũng do nhu cầu thưởng thức nghệ thuật, công chúng, bối cảnh văn hoá nó như thế. Còn bây giờ, xã hội đã khác trước. Các phương tiện nghe nhìn đã phát triển. Văn hoá cũng thay đổi. Không thể đòi hỏi ca trù giống các bộ môn khác được. 

TS Nguyễn Xuân Diện sinh năm 1970 tại Đường Lâm, Sơn Tây. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội ngành Hán Nôm năm 1992, bảo vệ luận án Tiến sĩ về ca trù năm 2007. Luận án của anh là một trong những tài liệu trong hồ sơ ca trù gửi UNESSCO.

Ca trù chỉ có một đối tượng nghe, đối tượng thưởng thức của riêng mình. Không thể yêu cầu tất cả mọi người đều thích ca trù được. Nhưng cũng nên phổ biến bằng cách giới thiệu ca trù trong các chương trình phát thanh truyền hình, quảng bá trên báo chí, đưa lên trang mạng... Trong 100 người xem được một vài người thích là thành công rồi.

Chúng ta không thể nóng vội, mà nóng cũng không được. Nhưng chẳng hạn như, hồi trước trong các đám tế thành hoàng làng, có mục hát thờ của ca trù. Giờ các đình làng có thể khôi phục bằng cách mời đào nương về hát. Hay ca trù có thể xuất hiện trong các đám mừng thọ, thậm chí đón tiếp ngoại giao.

Mang ca trù đi đối ngoại, liệu khách nước ngoài có hiểu không?

- Tây nghe ca trù họ hiểu chứ. Ông Viện trưởng Âm nhạc Pháp gọi ca trù là một trong những đỉnh cao của âm nhạc nhân loại. Họ không hiểu lời ca, nhưng nghe được cái nhạc của nó. Hai người phản biện kín của hồ sơ ca trù của UNESCO thì một là người Đức, một là người Anh.

Ca trù đã từng bị biến thái trong quá khứ. Bài học của karaoke cũng vẫn đang còn đó. Có khi nào, anh nghĩ ca trù sẽ lại bị biến thái lần nữa không?

- Có lẽ lúc này tôi chưa nghĩ đến điều này. Nhưng sẽ có những hình thức như ai đó muốn thưởng thức ca trù, đặt các CLB hoặc nhóm nào đó, tổ chức tiệc ăn uống, có vài chén rượu Tây, có hơi men, có ca trù, lấy thưởng thức đó làm vênh vang, làm mốt. Còn đến mức như hồi trước 1945 thì không thể. Xã hội sẽ điều chỉnh.

Nguyễn Xuân Diện trăn trở: Bảo tồn ca trù là phải tìm cho nó một chỗ đứng trong đời sống đương đại. Đừng để ca trù chỉ còn trong thư tịch cổ hay trong kho băng đĩa. Việc bảo tồn phải được tiến hành thường xuyên lâu dài. Không phải làm ào một cái rồi sau vài tháng không ai để ý gì nữa. Những tuyên bố hành động đã được nói rất hay, được trình bày rõ trong hồ sơ và được UNESCO đánh giá rất cao. Nhưng vấn đề là thực hiện như thế nào. Cách làm kiểu thời vụ, làm để báo cáo, ăn xổi, là nguy cơ trông thấy.

Nhân đây xin nhắc lại một câu chuyện: "Có một nhà lãnh đạo văn hoá nói với bà Quách Thị Hồ rằng: "Cái nghề ca trù của bà chỉ phục vụ bọn thực dân phong kiến, cái cây đã chết, cho nó chết, lấy đâu hoa mà nở". Bà Hồ nói lại: Đấy rồi ông xem, hoa có nở không?"(Báo Lao Động Chủ nhật, số 40, ngày 20.10.1991, tr.5).

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23290195