Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhac cu

Đi tìm thuỷ tổ của nhạc cụ

 



Trên đường trở về nhà trọ sau một ngày rong ruổi rừng núi của thôn Nưa Thượng, xã Tân Lập, huyện Thanh Sơn, Phú Thọ, bất chợt tôi nghe thấy những thanh âm vô cùng lạ lẫm: khi trầm ấm, lúc rền vang, khi sầm sập như sấm dậy, bừng bừng khí thế, lúc lại nhỏ nhẹ như lời tâm tình...

Lần theo tiếng vọng ấy, tôi tới một nếp nhà sàn và được chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng: trên mảnh đất hẹp dưới mái hiên, một ông lão gầy gò ngồi say mê gõ nhịp lên một sợi dây rừng căng trên mặt đất, thỉnh thoảng lại điểm nhịp vào hai ống nứa có những sợi dây cũng bằng cật nứa. Cạnh đó là một cậu bé đang tròn xoe mắt nhìn và chăm chú lắng nghe. Thì ra ông lão người Mường tên là Đinh Văn Nhật ấy đang dỗ đứa cháu đích tôn bằng những âm thanh của một loại nhạc cụ độc đáo là… trống đất!

Thuỷ tổ của các loại nhạc cụ

Ông Nhật năm nay 61 tuổi, là con nhà nòi âm nhạc, dù chỉ là âm nhạc dân gian. Cụ thân sinh ra ông không chỉ là một kép chèo có tiếng trong vùng, mà còn kiêm luôn đánh trống, thổi kèn của phường bát âm xã Tân Lập.

Năm lên bảy tuổi, cậu bé Nhật đã được cha tận tình chỉ dạy các ngón nghề. Ngoài những điệu trống, bài kèn đám hiếu, người cha cũng không quên dạy cậu con trai hiếu động cách làm và chơi trống đất - một nhạc cụ độc đáo của dân Mường xứ này. Vậy là mỗi buổi đi chăn trâu, cắt cỏ, Nhật vẫn thường rủ đám trẻ mục đồng đào hố làm trống đất để đánh và reo hò thích thú.

Hai chục năm khoác áo lính, xông pha trận mạc từ Bắc chí Nam, đến năm 1981 chàng trai ấy về quê thì phải lao vào cuộc mưu sinh gian khó để cùng vợ nuôi mẹ già và bốn con thơ dại, chẳng còn tâm sức đâu mà nghĩ đến trò chơi thuở nhỏ. Mãi đến năm 1994, khi đình Nưa (thờ Đức Thánh Tản) được công nhận là di tích lịch sử văn hoá và chính quyền cho khôi phục lại lễ hội, cùng với nhiều trò diễn xướng dân gian khác được địa phương khuyến khích phục hưng, ông Nhật mới làm hồi sinh trống đất.

Theo truyền thuyết thì trống đất có từ thời Hùng Vương. Một lần, đoàn quân đi đánh trận trở về, đến Nưa Thượng bèn hạ trại nghỉ ngơi và ăn mừng chiến thắng. Khi chặt tre nứa để dựng trại, do chinh chiến lắm, giết giặc nhiều nên đao kiếm của ai nấy đều đã cùn, sứt mẻ đến nỗi chặt ống nứa không đứt, vẫn sót lại một vài thanh cật mỏng. Vô tình, có người đi qua, chạm vào, thấy phát ra thanh âm là lạ “bòng banh, bòng bành”, tthế là chiếc đàn toòng tửng ra đời.

Rồi trong lúc quân lính đào đất chôn cọc dựng trại, thấy tiếng thậm thình vui tai vọng lên từ lòng đất, vậy là trống đất ra đời mang lại những âm thanh từng tưng, toòng từng. Từ thú giải khuây, trống đất ngày một phát triển và góp mặt trong những buổi lễ trang trọng như lễ tế cờ xuất quân, lễ mừng chiến thắng…

Ông Nhật bảo đào đất và đánh trống là làm kinh động tới thổ thần nên bao giờ thân chủ cũng phải sửa một cái lễ mọn. Ông đội khăn xếp, áo the, quần lụa, tự tay dâng hương hoa nải quả, trầu, rượu lên chiếc bàn thờ đặt trước nhà rồi thành kính chắp tay lầm rầm khấn vái: “Hôm nay, nhằm ngày… tháng… năm… Tín chủ con là Đinh Văn Nhật lễ bạc tâm thành, phục thỉnh… cầu xin thổ thần cho phép con động thổ làm trống đất. Nếu ngài đồng ý, xin ứng vào đài âm dương này”. Khấn xong, ông kính cẩn nâng chiếc đĩa sứ con con đựng hai đồng chinh lên ngang mặt, vái ba vái rồi gieo quẻ. Quay về phía tôi, ông mừng rỡ cười bảo: “Số chú may thế, xin một lần là được ngay”.

Như được thánh thần trợ sức, ông Nhật hoạt bát hẳn lên. Ông cắm phập từng nhát thuổng chắc nịch xuống khoảng đất bên bờ ao. Loáng cái, một hố rộng chừng 40cm, sâu 30cm, hình chum (miệng và đáy bằng nhau, giữa phình to) hiện ra. Ông lấy hai chiếc bẹ khô của cây bương xếp tráo đầu đuôi lên miệng hố, dùng hai thanh tre cố định hai đầu cho khỏi tuột, thêm bốn thanh tre nẹp xung quanh mép hố rồi lại dùng bốn cọc tre nhỏ ghim thật chặt xuống đất để ép hai chiếc bẹ bương phẳng, trùm kín mặt hố. Đó là hộp cộng hưởng của trống.

Tiếp đến, ông đóng hai cành tre to như ngón tay cái, cách tâm trống chừng một mét về hai phía rồi dùng sợi dây rọ rọ (một loại dây leo sống tầm gửi trên những thân cổ thụ, tựa cây sắn dây nhưng thân có nhiều đốt và rất dai) gò thật chặt để kéo hai cành tre căng như hai cánh cung. Một sợi dây khác nhỏ hơn được câu từ tâm mặt trống (gọi là dây rốn), tạo mặt trống thành hình vòm, nối lên và chia đoạn dây phía trên thành hai pha: bên dây ngắn, căng thì cho tiếng nhạc cao, bên dây dài, chùng thì phát ra tiếng trầm. Đánh vào sợi dây, hai loại âm thanh bùng và binh phát ra nghe rộn rã.

Trống đất dễ làm vì chỉ mất chừng 20 phút, nhưng quan trọng nhất là phối hợp cho được tất cả các yếu tố vòm, hộp cộng hưởng, dây trống… Chất lượng âm thanh của trống phát ra cũng tuỳ thuộc vào đôi tay kỳ diệu của nghệ nhân.

Cuộc trình diễn trống đất sẽ thú vị hơn khi có sự góp mặt của đàn toòng tửng bằng cách róc tinh nứa (lớp ngoài cùng của cật) làm dây đàn, gắn với thân ống nứa bằng những chiếc lẫy như của đàn cò. Khi đánh vào, đàn sẽ phát ra những tiếng bòng banh ngồ ngộ. Ngoài ra, chiếc đàn này còn có thể hợp cùng sáo và đâm ống tạo thành một dàn hợp xướng rất đặc biệt.

Chỉnh lại chiếc khăn xếp cho ngay ngắn, vuốt phẳng hai ống tay áo, lão nghệ nhân ngồi ngay ngắn trên ghế nhỏ trước chiếc trống đất, hai bên là hai chiếc đàn toòng tửng. Với hai chiếc dùi ở tay phải, một dùi nơi tay trái, ông nhịp nhàng đánh vào sợi dây rọ rọ. Những thanh âm trầm ấm như từ xa vọng về. Lúc ông đánh dùi vào sợi dây, âm thanh nghe như tiếng đàn t’rưng. Lúc ông uốn cong một trong hai cành tre, âm thanh nghe lại rền như tiếng đàn contrebasse và đanh, réo rắt như tiếng đàn tam thập lục khi ông đẩy cần trống ra xa.

Đôi tay gầy guộc của ông mềm mại múa ba chiếc dùi, lúc đánh vào dây trống, khi đập vào đàn, tạo nên bữa tiệc âm thanh kỳ bí, mê đắm: hoặc sầm sập như sấm rền, giục giã như tiếng vó ngựa phi hay như tiếng binh khí đập vào nhau chát chúa, rồi tiếng ngàn vạn quân sĩ hò reo mừng thắng trận…

Ông Nhật cho biết âm thanh của trống đất phụ thuộc vào độ kín của mặt trống, chiều cao và độ dài của sợi dây cũng như chiều rộng và sâu của hố đất. Tiếng trống trong hay đục cũng còn phụ thuộc vào độ mịn, độ dẻo của đất. Mặt trống làm bằng bẹ cây bương thì tốt hơn mo cau, đào thân trống càng sâu, rộng thì âm thanh càng hay, càng âm vang. Ngoài bản trống đu tiêu biểu, trống đất cùng với đàn toòng tửng còn được sử dụng rất rộng rãi, có thể đệm cho các buổi hát xoan, ghẹo, hát trống quân, hát chèo. Cũng có thể dùng trống đất tỉa, đệm cho những bản nhạc hiện đại…

Một mai trống đất có còn?

Bên chén rượu nhạt mừng thành công của buổi trình diễn, ông Nhật vui vẻ lắm, luôn miệng nói cười về trống đất nhưng rồi cuối cùng lại ngao ngán thở dài cũng vì thứ di sản này: “Đấy, chú xem. Làm một chiếc trống đất thì quá đơn giản và nhanh gọn nhưng thanh âm của nó thì độc đáo, sống động vô cùng. Thế mà cả cái xứ này chẳng còn ai biết làm mà chơi. Một mai, khi tôi về hầu tiên tổ thì nhạc cụ độc đáo có từ hàng ngàn năm này chắc chắn cũng vĩnh viễn chìm sâu dưới ba tấc đất”.

Tìm hiểu thêm, chúng tôi được biết các anh Đinh Hữu Tự - Phó chủ tịch Uỷ ban Nhân dân xã Tân Lập, Đinh Văn Thông - cán bộ Phòng Văn hoá và Thông tin huyện Thanh Sơn là những người rất tâm huyết khi giúp trống đất lần đầu tiên có một buổi diễn hấp dẫn vào sáng mùng 10 tháng 3 Âm lịch năm Quý Mùi (11- 4- 2003). Hôm ấy, trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh lộng gió và ngát hương, hàng ngàn quan khách thập phương về dự lễ hội đền Hùng đã thực sự ngạc nhiên trước màn trình diễn đầy thú vị của nghệ nhân Đinh Văn Nhật.

Với đạo cụ chỉ là một chiếc hòm gỗ cũ kỹ đựng… toàn đất, cùng vài thanh nứa, chiếc bẹ bương và mấy sợi dây rừng, vậy mà ông lão khắc khổ ấy như nối được mối giao cảm thiên- địa- nhân.

Sau màn ra mắt thành công đó, Sở Văn hoá và Thông tin Phú Thọ đã xin cái hòm đất đặc biệt ấy để trưng bày trong Bảo tàng Hùng Vương. Cũng có vài người đã cất công tìm về tận Nưa Thượng để tìm gặp ông Nhật. Cuối năm 2003, cô Hoàn - sinh viên Nhạc viện Quốc gia Hà Nội - cũng về nghiên cứu cả tháng trời để làm luận văn tốt nghiệp… Nhưng tất cả đến rồi đi, nhẹ như một cơn gió thoảng. Ông Nhật và chiếc trống đất lại chìm trong cô quạnh.

Ông Tạ Văn Ngọ - Trưởng phòng Văn hoá và Thông tin huyện Thanh Sơn tỏ ra ưu tư: “Chúng tôi vẫn biết trống đất là một đặc sản của người Mường xứ này nên cần được bảo tồn và phát triển. Hiềm một nỗi, Thanh Sơn nói riêng và Phú Thọ nói chung có khá nhiều di sản văn hoá phi vật thể như hát xoan, gẹo, hát giang, hát ví… nhưng tỉnh ưu tiên đầu tư cho hát xoan trước. Thế nên các di sản khác cũng như trống đất đành phải xếp hàng mà chờ. Chúng tôi cũng áy náy lắm nhưng không đào đâu ra kinh phí đầu tư nên đành chịu”…

Được biết ngoài ông Đinh Văn Nhật, ở nước ta chỉ còn một nghệ nhân nữa biết làm và chơi trống đất là ông Phạm Tiến Sỹ, 85 tuổi, người làng Miêu Nha, xã Lộc Điền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Một nghệ thuật độc đáo như trống đất mà trên cả nước chỉ còn hai nghệ nhân lưu giữ được thì quả là điều đáng tiếc!

http://tintuc.xalo.vn/201898502353/di_tim_thuy_to_cua_nhac_cu.html

Tuổi trẻ - 11/08/2007

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23466874