Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Tiểu sử nhạc sĩ

Trần Quang Hải : Năm đời nhạc sĩ họ TRẦN, tiếp theo

Năm đời nhạc sĩ họ TRẦN (tiếp)

Ðời thứ năm: Nhạc sĩ trong lòng nhạc thế giới Trong số bốn người con của Ba tôi, chỉ có em gái út là Trần thị Thủy Ngọc (1950) và tôi là Trần Quang Hải (1944) là tiếp tục truyền thống nhạc cổ gia đình. Em trai kế tôi là Trần Quang Minh (1946) từng tạo tiếng tăm trong giới sinh viên ở Sài Gòn và nhất là trong trường kiến trúc với ban nhạc kích động " Ba Trái Gáo Dừa" và ban nhạc "Bùng Rền" chuyên về tân nhạc và nhạc ngoại quốc. Em gái kế đó tên Trần Thị Thủy Tiên (1948) không có học nhạc nhưng có khiếu làm hề, chọc người khác cười nhưng chưa bao giờ lên sân khấu hài. Em gái Thủy Ngọc sang Pháp từ năm 1969, học đàn tranh với Ba tôi tại Pháp và phụ giúp Ba tôi dạy đàn tranh tại Trung tâm nghiên cứu nhạc Ðông Phương (1980-1987).

Tôi học nhạc từ năm 5 tuổi. Lúc đó Ba tôi đã đi sang Pháp rồi. Bên nhà, xung quanh tôi không ai biết nhạc để hướng dẫn tôi. Má tôi cho tôi học đàn Mandoline, rồi học vĩ cầm, rồi dương cầm. Ðến khi trường quốc gia âm nhạc mở cửa tại Sài Gòn năm 1955, tôi là nhạc sinh đầu tiên của trường, và học vĩ cầm với ông Phạm Gia Nhiêu (từ trần ở Sài Gòn) năm đầu tiên. Những năm kế tiếp tôi học vĩ cầm với ông Ðỗ Thế Phiệt (đã từ trần tại Sài Gòn) cho tới năm tốt nghiệp năm 1961. Về nhạc lý tôi học với hai ông Nguyễn Cầu (từ trần tháng 12, 1992 tại Washington DC, Hoa Kỳ) và Hùng Lân ( từ trần tại Saigon). Khi sang Pháp vào cuối năm 1961, lần đầu tiên tôi gặp lại Ba tôi sau 13 năm xa cách, tôi chỉ có ý định học nhạc Tây Phương để trở thành nhạc sĩ vĩ cầm chứ không có ý định tiếp tục truyền thống nhạc cổ của gia đình. Phải nói là nhờ nhạc sư vĩ cầm Yehudi Menuhin đã khuyên tôi nên trở về nguồn thì họa may tôi có thể trở thành thày của người Tây Phương. Tôi đã nghe lời ông Yehudi Menuhin. Từ đó tôi học đàn tranh và nhạc lý Á châu với Ba tôi tại Sorbonne cũng như tại Trung tâm nghiên cứ nhạc Ðông Phương. Trong thời gian 8 năm dài đăng đẳng, tôi đã lỉnh hội về nhạc lý cũng như thực tập một số nhạc khí như trống Zarb của Ba Tư, đàn nhị nan hu của Trung quốc, đàn vina của Ấn độ miền Nam, hát kinh kịch Trung quốc, hát múa rối Bunraku của Nhựt, đàn gamelan của Nam Dương. Tôi tự học đàn độc huyền, đàn cò, sinh tiền. Tôi đã phát triển kỹ thuật đàn môi sau khi học với người bạn xứ Anh là John Wright nhờ nghe và thấy nhiều loại đàn môi khác trên thế giới. Lúc nhỏ, tôi có học đánh muỗng căn bản ở Việt Nam. Khi sang Pháp, gặp một người bạn nhạc sĩ Mỹ, tên là Roger Mason, đánh muỗng thật hay. Chính nhờ sự trao đổi kỹ thuật đánh muỗng qua những cuộc "đụng độ" tranh tài muỗng trên sân khấu mà tôi phát triển cách đánh muỗng. Cho tới ngày hôm nay, tôi là người duy nhứt thế giới trình diễn độc tấu muỗng trên sân khấu. Tôi có dịp chạm trán với những danh tài về muỗng tại Mỹ, Gia nã đại, Nga, Anh, Pháp, Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng chưa ai có thể đánh muỗng hay hơn tôi. Và tôi đã được "tôn" làm "Vua Muỗng (Le Roi des Cuillers / The King of Spoons) tại một đại nhạc hội dân nhạc ở Cambridge Folk Music Festival vào năm 1967.

Sau khi đậu xong bằng cao học về dân nhạc của trường cao đẳng khoa học xã hội, tôi được Trung Tâm Quốc Gia Nghiên Cứu Khoa Học nhận vào làm việc từ đầu năm 1968. Vài năm sau tôi đệ trình luận án tiến sĩ về sự khám phá kỹ thuật hát đồng song thanh. Tôi tự khám phá cách hát đồng song thanh, tức là hát hai giọng cùng một lúc, do dân Mông Cổ và dân Tuva miền Tây Bá Lợi Á . Tôi đã năng luyện kỹ thuật hát này để trở thành một người chuyên môn duy nhứt trên thế giới có thể truyền dạy kỹ thuật hát đồng song thanh cho bất cứ người nào trong vòng 3 phút.

Năm 1989, tôi cùng anh bạn cùng sở Hugo Zemp hoàn thành cuốn phim nhan đề "Le Chant des Harmoniques " (Bài hát bồi âm) dựa trên ba khía cạnh nghiên cứu : cách đo bồi âm của giọng hát qua máy Sonagraph, cách đo cổ họng và miệng qua quang tuyến X (rayon X / X-ray), và phương pháp dạy hát của tôi. Phim dài 38 phút, chiếm 4 giải thưởng quốc tế (Estonie năm 1990, Pháp năm 1990, Canada năm 1991). Năm 1995, tôi được mời sang Kyzyl, thủ đô của xứ Tuva, để làm chánh chủ khảo cuộc thi hát đồng song thanh cho 300 ca sĩ hát theo kỹ thuật này. Năm 1997 tôi nghĩ tới chuyện sáng chế ra một cây đàn môi mang tên tôi. Với sự giúp đở kỹ thuật của Hồ Bách Nghĩa, tôi đã thực hiện giấc mộng của tôi là lưu lại cho đời sau một nhạc khí mang tên tôi. Cây đàn môi này đã được tặng cho viện bảo tàng ở Cape Town (Nam Phi), viện bảo tàng đàn môi của xứ Yakut (Tây bá lợi á), viện bảo tàng đàn môi ở Molln(Áo quốc). Cùng một năm, tôi viết 17 tác phẩm cho đàn môi nhiều loại và có thu vào một CD mang tên là "Guimbardes du Monde / Jew’s Harps of the World/ TrânQuang Hai" do hãng dĩa Playasound phát hành tại Paris vào tháng 11,1997. Năm 1998, tôi được mời như là thượng khách của đại hội đàn môi thế giới để tham luận về đàn môi Á châu, đàn môi trong nhạc mới Tây phương, và trình diễn. Tôi được may mắn được chọn là Nhạc Sĩ đánh đàn môi hay nhứt đại hội ( The Best Jew’s Harp Player of the Festival) gồm những người chơi đàn môi giỏi nhứt. Trong hai năm 1999 và 2000, tôi được mời làm thượng khách (invité d’honneur) hay chủ tịch danh dự (président d’honneur) của nhiều đại nhạc hội (Festival d’Auch/Eclats des Voix năm 1999, Festival de Pérouges/Au Fil de la Voix năm 2000, vv...) . Năm 2002, tôi được huy chương Bắc đẩu bội tinh (Légion d’Honneur) của Pháp và năm 2009 huy chương danh dự làm việc hạng đại kim (médaille d’honneur du Travail, catégorie Grand Or) của Pháp . Năm 2004, tôi hợp tác cùng Luc Souvet thực hiện một DVD « Le Chant Diphonique » dành cho học sinh trung học do Centre Régional de Documentation pédagogique ở Saint Denis (đảo La Réunion) phát hành. Năm 2009, một DVD về nhạc truyền thống Việt Nam được xuất bản tại Pháp.

Sau nhiều năm trình diễn nhạc Việt tại các đại nhạc hội quốc tế, giảng dạy tại các trường đại học thế giới, tôi đã và đang tiếp tục duy trì truyền thống nhạc cổ gia đình. Với tổng số 23 dĩa hát(15 dĩa 33 vòng, 8 dĩa CD) được phổ biến khắp nơi từ hơn 45 năm nay, tiếp tục con đường phát huy nhạc Việt ở hải ngoại của phụ thân tôi. Một mặt lo bảo vệ truyền thống, một mặt khác tôi tự vạch một hướng đi cho riêng tôi. Ðó là hòa mình vào trong xã hội Tây phương. Những thử thách đi từ sáng tác nhạc Việt (400 bài) đến trình diễn nhạc Jazz, nhạc Pop, qua nhạc phim Tây phương. Tôi đã khởi công làm nhạc điện tử (Về Nguồn,một sáng tác cùng với nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Tường (1929-1997 tại Pháp), nhạc đương đại tùy hứng (một dĩa 33 vòng SHAMAN với nhạc sĩ Jazz Misha Lobko, 1982), nhạc tùy hứng tập thể, những loại nhạc cận đại thuộc khuynh hướng tân kỳ nhất, và một số bài bản đã được trình diễn tại các nhạc hội quốc tế. Năm 1997, tôi có cộng tác trong dự án bộ dĩa 3 CD với đề tựa VOIX DU MONDE do 30 nhà nghiên cứu dân tộc nhạc học đã chiếm giải thưởng Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros, Le Diapason de l’Année, Le CHOC de l’annéẹ Tôi cũng có tham dự việc thực hiện một dĩa 2 CD về nhạc sắc tộc Việt Nam, được xuất bản vào tháng 11, 1997 nhân dịp lễ Thượng Ðỉnh Pháp Thoại lần đầu . Nữ ca sĩ Bạch Yến, một giọng ca quen thuộc của làng tân nhạc Việt Nam, đã từng nổi tiếng qua bài "Ðêm Ðông" (nhạc của Nguyễn Văn Thương) và những bài ca nhạc ngoại quốc, đã mang đến cho tôi sau ngày chúng tôi thành hôn với nhau, một nguồn hứng mới. Bạch Yến đã đóng góp vào việc phổ biến nhạc Việt ở hải ngoại một cách đắc lực và kín đáo. Kinh nghiệm về sân khấu, về sự tổ chức chương trình, cũng như sự lưu ý đến trang y phục để làm cho chương trình trình diễn có một giá trị sân khấu và nghệ thuật cao hơn. Hai chúng tôi đã sát cánh từ hơn 30 năm nay và đã gặt hái nhiềuthành công, cụ thể hóa bằng một giải thưởng tối cao Grand Prix du Disque de l’Académie Charles Cros năm 1983 tại Paris cho dĩa hát của chúng tôi "Viêt Nam - Trân Quang Hai & Bach Yên" do hãng dĩa Studio SM phát hành tại Paris, một huy chương vàng âm nhạc năm 1986 do Hàn Lâm Viện Văn Hóa Á Châu ban tặng, và nhiều giải thưởng quốc tế khác.

 Với 5 đời nhạc sĩ cổ truyền, với một truyền thống âm nhạc gia đình hơn 160 năm, môĩ một đời nhạc sĩ đã có những bước tiến ngày càng nới rộng. Ðời thứ nhứt chỉ giới hạn trong thành nội Huế mà thôi. Ðời thứ nhì đã thay đổi vào miền Nam và đã có sáng tác bài bản cho đàn tỳ bà. Ðời thứ ba được đánh dấu bằng sự sáng tạo dây Tố Lan cho cách lên dây đàn kìm để đàn cảc bài buồn và liên kết giữa hai gia đình nhạc sĩ . Ðời thứ tư được chứng mình bởi ảnh hưởng Tây phương và việc phát huy nhạc cô truyền ơ hải ngoại . Ðời thứ năm nhắm vào sự trình diễn nhạc Việt ở hải ngoại và sự hội nhập các luồng nhạc cổ tân Ãu Á trong một chiều hướng sáng tác cận đại trong một chiều hướng đương đại. Ðời thứ sáu chưa thấy có một viễn ảnh tốt đẹp. Các con học nhạc rất ít, không có năng khiếu về âm nhạc. Con gái tôi, Trần thị Minh Tâm (sinh năm 1973), học xong cử nhân về nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris (Ba tôi , tôi và con gái tôi đều học chung một trường dạy về nhạc học). Ngoài ra con tôi học piano 10 năm, nhạc lý 11 năm. Từng hát cho dàn hợp xướng của trường đại học Sorbonne. Nhưng lại không thích nghiên cứu. Sau khi đậu cử nhân nhạc học, cháu tìm được việc làm tổ chức đại nhạc hội cho nhạc cổ điển bên Thụy Sĩ từ năm 1997. Hiện nay cháu làm việc tại Paris cho một tổ chức chuyên về nhạc baroque từ năm 2008.

Có thể truyền thống nhạc gia đình họ Trần đến đây là chấm dứt hay có thể trao lại cho một người nào khác không phải ở trong gia đình ? Tôi vẫn tiếp tục tìm một người để trao lại những gì tôi đã học đuợc hầu tiếp nối con đường tôi đã và đang dấn thân đi. Cái khó khăn của tôi là khó tìm cho ra một người có đủ khả năng và chịu để hết thời giờ và tâm chí vào việc học nhạc và nghiên cứu nhạc, cũng như trình diễn nhạc, nhất là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Ở trong nước, tôi không có hy vọng vì tôi không có mặt trong xứ để khám phá "người trong mộng". Tôi chỉ nuôi mộng ảo và ước mong sao mộng ảo đó có ngày sẽ trở thành sự thật thì lúc đó dù tôi có nằm xuống đi rồi, tôi cũng sẽ ngậm cười toại nguyện vì truyền thống nhạc của gia đình họ Trần vẫn còn được tiếp nối qua những thế hệ sau.

                                                                            Trần Quang Hải (Paris)
 

                                                       

Trần Quang Hải (TQH): Tôi sinh ngày 13 tháng 5, năm 1944 tại làng Linh Đông Xã, huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định, miền Nam Việt Nam. Lúc còn học sinh, học tại trường trung học Trương Vĩnh Ký và học nhạc tại trường quốc gia âm nhạc Saigon từ năm 1955 tới 1961. Sang Pháp năm 1961, học khoa nhạc học tại trường đại học Sorbonne, và trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Centre of Studies for Oriental Music) ở Paris. Trong thời gian đó, tôi lại học môn dân tộc nhạc học (ethnomusicology) tại trường cao học khoa học xã hội (School of Studies for Social Sciences). Đậu tiến sĩ dân tộc nhạc học vào năm 1973. Làm việc tại Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) từ năm 1968 tới ngày nay (41 năm) với chức vụ nghiên cứu gia về dân tộc nhạc học (ethnomusicologist) chuyên về nhạc Việt Nam và nhạc Á châu, đặc biệt về giọng hát.

http://www.petruskylhp.org/nhacsihotran.htm

 

 

 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23466937