Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Tiểu sử nhạc sĩ

Kim Sinh: Họa mi vàng xứ Nam (Phần cuối)

 

Kim Sinh: Họa mi vàng xứ Nam (Phần cuối)
Thứ ba, 8/1/2008, 07:00 GMT+7

“…Cả một thời hoàng kim rực rỡ ánh đèn sân khấu, nay đã trở thành hoài niệm. Hoàng hôn đời bố Sinh tôi màu gì? Ai dám nói? Hôm nay, lại đến ngày giỗ Tổ nghề, cũng như bao năm tháng đã qua, bố lại lọ mọ lần đến các đoàn Cải lương dâng hương tế Tổ. Một kiếp đại danh cầm cổ nhạc đất Bắc, vậy đó!!!...”

>> Kim Sinh: Hoạ mi vàng xứ Nam!
>> Người "lấn chiếm" chiếu xẩm Hà Thành
>> Sân khấu 2007: "Hồn hàng thịt, da cũng hàng thịt nốt"?
>> Văn học Việt Nam 2007: Cãi cọ, kêu ca, ối chà... chán!

Bố Sinh tôi có thể đàn thông thạo, điêu luyện nhiều nhạc cụ dân tộc, bên cạnh những nhạc cụ Tây phương như guitare espagnole, guitare hawaienne hay violon. Sở trường lớn nhất của ông, có lẽ phải nói đến cây đàn nguyệt. Vào những năm đầu của thập kỷ 60, ở Nhạc viện Hà Nội (lúc bấy giờ gọi là Trường Âm nhạc Việt Nam), hẳn rất nhiều người còn nhớ một giai thoại truyền tụng về “Paganini đàn nguyệt”. Thời gian đó, khoa nhạc cụ cổ truyền có mời ba danh cầm của đoàn Cải lương Chuông vàng về trường biểu diễn. Đó là hai nghệ nhân lão thành Đinh Lạn (đàn cò), Bảy Nghì (đàn gáo) và nghệ nhân trẻ Kim Sinh (đàn nguyệt). Trong lúc hòa tấu bài Nam đảo, vào khoảng gần hết lớp I (8 câu đầu) thì không may, cây đàn nguyệt Kim Sinh đang diễn tấu bất ngờ long phím số 6. Tuy vậy, ông vẫn chơi tiếp mà không dừng lại gắn phím.

 

Vì đây là một cung bậc quan trọng, xuất hiện nhiều trong bài Nam đảo nên từ lúc đó trở đi, Kim Sinh buộc phải sử dụng lối nhấn mượn phím liên tục để thể hiện nó. Do nhấn quá căng liên tục như vậy, nên khi đàn đến khoảng đầu lớp III thì dây ngoài của đàn Nguyệt bị đứt. Thế nhưng Kim Sinh vẫn tiếp tục chơi hết phần còn lại của bài Nam Đảo bằng cây đàn nguyệt… một dây, long phím đó! Ngay lập tức, dưới khán thính giả có ai đó đã thốt lên: “Paganini đàn nguyệt”!

Ở đây, xin lưu ý, đàn nguyệt vốn chỉ có hai dây, phím lại gắn theo hệ ngũ cung nên bình thường chơi đã khó rồi, nay lại còn đứt dây long phím nữa thì khỏi phải bàn là nó sẽ như thế nào! Mặt khác, cần lưu ý, bài Nam đảo có 52 câu, tính từ khi đứt dây ngoài thì Kim Sinh phải chơi nốt hơn 30 câu còn lại, và sau đó lại chuyển sang 15 câu song cước trên dây Hò ba. Ngay trong giới nhà nghề, thực hiện được điều đó vẫn là điều “xưa nay hiếm”!

Bàn về tài năng sử dụng nhạc cụ của Kim Sinh, điều thú vị nhất là khả năng thích ứng với một nhạc cụ mới lạ mà cả đời ông chưa từng… rờ tới. Có hai giai thoại điển hình:

Chuyện thứ nhất: Năm 1993, tôi có dạy cổ nhạc cho một sinh viên đàn tỳ bà ở Nhạc Viện. Khi tới độ chín muồi, tôi đã dẫn cô bé đó ôm đàn đến xin ông chỉ giáo. Ông cười: “Cả đời tao có biết mặt mũi tỳ bà nó thế nào đâu, đưa bố xem nào”. Cầm cây đàn trên tay, ông lần mò từng cung phím làm quen, vặn lại dây theo hệ âm tương thích, rồi bắt đầu dạo ngón. Chỉ một lát sau, những ngón đàn tỳ bà xuất thần mang “thương hiệu” Kim Sinh đã cuồn cuộn tuôn trào. Tôi sửng sốt, không nhịn được, buột mồm rỉ tai cô sinh viên nọ:

“Thôi em bỏ nghề đi, đừng chơi đàn tỳ bà nữa!”

Chuyện thứ hai: Mùa đông năm đó, có một phái đoàn thuộc tổ chức Trung tâm nghiên cứu âm nhạc châu Á Thái Bình Dương của Mỹ sang làm việc. Thầy Tô Ngọc Thanh giao cho tôi sắp đặt, tổ chức một buổi biểu diễn nhạc cổ truyền tại Viện âm nhạc để làm việc với khách. Tôi bàn với bố thiết kế chương trình hòa tấu nhạc Tài tử- Cải lương… Về vấn đề nhạc cụ cung vĩ kéo, tôi nói không nên đàn violon, phải dùng đàn nhị cho nó… thuần khiết(!) Bố cười mà rằng: “Tao có chơi đàn nhị bao giờ đâu”- “Giời ơi! Bố phải thử xem sao, bố sẽ chơi được mà…”. Rồi tôi kiếm ngay một cây nhị mang đến cho ông. Và đương nhiên là sau một thời gian ngắn làm quen, bố Sinh tôi đã “xài” ngon lành, những cung vĩ ngọt ngào trên cây đàn mà cả đời ông chẳng bao giờ đụng tới. Buổi biểu diễn thật ấn tượng, không ai nhận ra điều đó, trừ tôi và các nghệ nhân trong nhóm.

Thời chiến tranh chống Mỹ. Bố Sinh tôi khi đó thuộc biên chế đoàn Cải lương Chuông vàng, nhưng vẫn tham gia biễu diễn trên Đài phát thanh Giải phóng (Đài B). Những cán bộ chuyên trách thời kỳ đó hẳn còn nhớ mãi một giai thoại khá nổi tiếng về ông. Lúc đó, ở Sài Gòn, nghệ nhân lục huyền cầm nổi tiếng nhất của nền ca nhạc Tài tử -Cải lương Nam bộ là bác Văn Vĩ. Ông cũng là một nghệ sĩ khiếm thị, nằm trong bộ ba đại danh cầm Năm Cơ- Văn Vĩ- Bảy Bá. Giới nhà nghề thường gọi họ là Tam hùng cổ nhạc miền Nam. Cùng lúc ở ngoài Bắc, bố Sinh tôi khi đó cũng đã nổi tiếng lắm.

 

Một ngày nọ, trên Đài phát thanh Tự do (của chế độ Sài Gòn cũ) bỗng vang lên một giọng nói: “Này tên Việt Cộng Kim Sinh, hãy nghe đây, nghe đây!” Rồi người ta nghe thấy tiếng đàn ghi ta phím lõm (lục huyền cầm) của danh cầm Văn Vĩ với chuỗi 6 câu Vọng cổ danh bất hư truyền. Mấy hôm sau, Kim Sinh lập tức lên sóng đàn lại 6 câu đối đáp. Cuộc “chạm trán” đó được giới nghề truyền tụng mãi. Ngay sau ngày giải phóng, đoàn Chuông vàng vào Sài Gòn biểu diễn giao lưu. Kim Sinh lập tức nhờ người đèo ngay đến xin gặp Văn Vĩ. Cũng biết tiếng Kim Sinh từ lâu và cũng thực lòng mến mộ, danh cầm Văn Vĩ đã tổ chức một bữa đại tiệc linh đình tại nhà riêng với đủ mặt anh tài Cải lương đất Sài Gòn.

Hai nghệ sĩ khiếm thị ôm nhau mừng mừng tủi tủi. Bởi họ thực bụng kính trọng nhau với tấm lòng đồng cảm của giới nghệ sĩ cổ nhạc, như những hiệp khách giang hồ tứ phương tám hướng. Bố tôi kể, trong buổi tiệc đó, bác Văn Vĩ xếp ông ngồi kế bên, giới thiệu với từng người một, rồi sau đó, một cuộc đờn ca bắt đầu. Tình nghệ sĩ Bắc Nam một nhà cứ thế tuôn trào với biết bao xúc cảm đặc biệt.

Bữa đó, bác Vĩ đã nhận bố Sinh tôi làm em kết nghĩa. Về sau, bác Văn Vĩ cũng cho biết rằng câu chuyện trên Đài Tự do là do ai đó sắp đặt, cho phát cuốn băng tiếng đàn Văn Vĩ khiêu khích Kim Sinh chứ thực tình, ông không hề hay biết. Mối giao tình giữa các nghệ sĩ nhạc Tài tử- Cải lương hai miền thực ra đã có từ thời Pháp thuộc. Đến thế hệ hai ông, đã đầy ắp nhưng câu chuyện của cả một thời phiêu bạt, lưu diễn của các thế hệ tiền bối.

Năm 1993, khi tôi chính thức triển khai đề tài nghiên cứu nhạc Tài tử -Cải lương tại Tp Hồ Chí Minh, mối giao tình giữa bố Sinh và các danh cầm trong đó lại một lần nữa thắt chặt. Những năm đó, tôi đóng vai giao liên, đi đi về về để chuyển giao khối tình của các danh cầm như Bảy Bá, Năm Vĩnh, Ba Tu, Văn Giỏi, Thanh Hải giành cho bố Sinh. Có rất nhiều chuyện cảm động mà không thể kể hết.

Không thể viết thư, bố Sinh đã nói chuyện và đàn vào băng cassette để tôi mang vào trong đó nhắn gửi với từng danh cầm. Đáp lại, mỗi nghệ nhân lại giao tình theo một cách khác nhau. Bác Bảy Bá thì nói vào băng cho tôi thu: “Kim Sinh có mạnh không, nghe nói đa mang quá mà, tui nhớ Kim Sinh lắm đó, cái vụ anh em mình.., nhớ không?” Bác Năm Vĩnh thì độc tấu gửi tặng bố Sinh những ngón đàn xuất thần của ông. Riêng chú Ba Tu, đã cất công bật băng Kim Sinh gửi đề hòa tấu theo kiểu “hữu thanh vô hình”- đối thoại với Kim Sinh… Sư phụ tôi - hoàng đế lục huyền cầm Văn Giỏi và đại ca Thanh Hải thì lần nào cũng gửi tôi mang cả xấp tiền về cho bố. Còn nhiều lắm, những câu chuyện cảm động giữa những bậc tài danh cổ nhạc.

Không chỉ trong nước, tài danh cổ nhạc Kim Sinh cũng đã được biết đến nhiều nơi trên thế giới. Bố Sinh tôi cũng đã từng được mời lưu diễn ở Nhật Bản và Mỹ. Không phải bàn nhiều về chuyện này, có thể tìm trên mạng những album Kim Sinh mà người ta đã phát hành. Chuyện vui nhất ở những chuyến xuất ngoại đó, bố kể: “Tao cứ nghe thấy bà nào xì xồ chào tao là không dám đưa tay ra bắt, phải đợi họ nắm tay trước. Mẹ! Nhỡ đụng nhầm vào… thì…!” Hay khi được phóng viên hỏi cảm giác của ông về nước Mỹ. Ông cười mà than rằng: “Khốn nạn, tôi có nhìn thấy gì đâu, thành phố các ông, cái nào cũng giống nhau cả thôi, loanh quanh trong phòng thu, thơm thơm mùi Tây và… tối như hũ nút!”

Buổi xế chiều, nghề Cải lương không còn đất dụng võ, bố Sinh tôi quay sang nghề tay trái - Hát văn. Giới nghề hiện nay vẫn thừa nhận, ông là một tay cung văn có hạng. Các bậc cao niên trong nghiệp Hát Văn cũng phải kính nể ông vài phần. Nhiều năm qua, bên cạnh nguồn lương hưu, ông chủ yếu kiếm miếng ăn qua cửa Điện thần Tứ phủ. Song tuổi cao sức yếu không chiều mãi lòng người, “keng keng, cốc cốc cốc cốc keng keng” cũng không được nhiều!

Khổ nỗi, ông không thể tự hành nghề này một mình. Bởi trong lễ thức lên đồng, người cung văn buộc phải theo dõi bà đồng, xem họ làm gì để biết đường còn sắp đặt các điệu nhạc cho phù hợp, ăn nhập. Thường thì bố Sinh tôi luôn làm chung với một cung văn khác. Họ đánh phách, hát và theo dõi lễ thức để chủ động dẫn dắt, bố chỉ đàn theo. Thế nên cũng bất tiện nhiều phần. Đấy là chưa kể ở nơi chốn thờ phụng, hương khói đậm đặc, cũng bất lợi cho sức khỏe; hay mỗi lần đi vệ sinh, ăn uống đều phải có người đưa dắt, mà chỗ lên đồng lúc nào cũng chật như nêm cối…

Cả một thời hoàng kim rực rỡ ánh đèn sân khấu, nay đã trở thành hoài niệm. Hoàng hôn đời bố Sinh tôi màu gì? Ai dám nói? Hôm nay, lại đến ngày giỗ Tổ nghề, cũng như bao năm tháng đã qua, bố lại lọ mọ lần đến các đoàn Cải lương dâng hương tế Tổ. Một kiếp đại danh cầm cổ nhạc đất Bắc, vậy đó!!!

Bùi Trọng Hiền (Nhà Âm nhạc dân tộc học)

http://vietimes.vietnamnet.vn/vn/nhietkevanhoa/4287/index.viet

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23294481