Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nghệ sĩ từ trần

Đào Tấn với âm nhạc

Đào Tấn với âm nhạc

Rất nhiều người biết Đào Tấn là một nhà soạn tuồng lỗi lạc, một thầy tuồng uyên bác, chứ ít ai biết được rằng Đào Tấn còn là một nghệ sĩ tinh thông các nhạc cụ trống, nhị trong nghệ thuật tuồng. Không những thế, ông còn đi sâu vào việc nghiên cứu, tìm hiểu các làn điệu, thậm chí sáng tác thêm phần âm nhạc cho các vở diễn qua các làn điệu hát tuồng như Giá Ban, Quỳnh Tương, Lý Thượng...





Trống, kèn, nhị là ba nhạc cụ nòng cốt trong dàn nhạc Tuồng. Ảnh: G.T




Từ thuở niên thiếu, Đào Tấn đã theo học cụ Tú Nhơn Ân Nguyễn Diêu. Nguyễn tiên sinh vốn là một nhà Nho thông tuệ, hát bội rất hay, khả năng sáng tác thơ và soạn tuồng xuất chúng. Nhờ vậy mà Đào Tấn hấp thụ được tinh hoa của thầy, để rồi cùng với tài năng của chính mình, mà sau này, làm rạng danh nền nghệ thuật tuồng truyền thống Việt Nam.

Với một con người “Năng ẩm, năng ca, anh hùng bản sắc” như Đào Tấn, thì việc say mê âm nhạc, tâm huyết với âm nhạc tuồng là lẽ đương nhiên. Biết tài Đào Tấn, năm 1881, vua Tự Đức đã hạ chỉ để ông soạn mấy nhạc chương tấu khúc. Không những thế, Đào Tấn cũng đánh trống tuồng rất giỏi. Ông có thể vừa dạy diễn viên hát múa, vừa đánh trống cho họ biểu diễn, giúp các nghệ sĩ thể hiện tốt tình cảm nhân vật trên sân khấu… Đặc biệt, Đào Tấn kéo đàn cò cũng rất hay, kéo đủ ba sắp hát Nam vừa vặn với câu hát. Tương truyền, Đào Tấn còn đặt lời hát cho bản nhạc Nam Xuân và Xây Thượng để dạy cho các học trò nhanh thuộc bản đàn, và khi đàn dễ có tình cảm, tạo cho tiếng đàn ngọt ngào, êm ái.

Với cách hát, Đào Tấn thường dạy học trò phải thuộc lòng nguyên tắc “tùy xứ khôi hài phùng trường tác hí”. Trong đó, “tùy xứ khôi hài” (tùy chỗ, tùy nơi, tùy người mà hài hước, châm biếm) là nguyên tắc bất biến; còn “phùng trường tác hí” (tùy cảnh trí sân khấu mà diễn) là nguyên tắc khả biến, có thể áp dụng ở mọi nơi, mọi lúc khi diễn tuồng. Đào Tấn hướng dẫn: “Kèn phải đưa hơi vui buồn từng câu, từng hồi để cho kịch sĩ lột hết tinh thần của vai tuồng, lúc hăng hái dữ tợn, lúc hãnh diện kiêu hùng”. Khi hát Nam, lại phải phân biệt giọng Xuân và Ai. Giọng Xuân ít buồn, đầy thi vị, dùng trong những cơn ly biệt sầu tình; còn giọng Ai hát trong cảnh khổ đau, não nề. Những câu hát Nam, dù hát giọng Xuân hay giọng Ai, đều nối theo những câu nói lối cùng giọng. Còn hát Khách thì dùng khi chén tạc chén thù, lúc giục ngựa ra đi hay khi ca khúc khải hoàn; hoặc khi tức cảnh sinh tình, nhộn nhàng cơn vui hay não nề than thở. Tất cả các làn điệu hát đều phải có kèn hay nhị đưa hơi để dặm thêm tình cảm của người biểu diễn trên sân khấu.

Cố tác giả Tống Phước Phổ cho rằng, văn tuồng của Đào Tấn rất thanh điệu, vì cụ chú ý nhiều đến âm vần, tiết tấu, tạo cho người hát hát có tình hơn. Và phải chăng, một trong những nguyên nhân khiến tuồng Đào Tấn thành công, có tác dụng mạnh mẽ với khán giả, là vì Đào Tấn là một nhà trí thức uyên bác, làu thông thi khúc, giỏi âm nhạc và hiểu biết sâu sắc về cuộc sống.

Nguyễn Gia Thiện - BBD

 

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của danh nhân văn hóa Đào Tấn (1907-2007):
Đào Tấn - Một nghệ sĩ thiên tài, một chính khách mẫu mực

Đào Tấn, tự Chỉ Thúc, hiệu Mộng Mai, sinh năm 1845, mất năm 1907, quê ở làng Vinh Thạnh, xã Phước Lộc, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Đào Tấn là một đại quan của triều Nguyễn, từng nhiều lần đảm nhiệm các chức vụ Tổng đốc, Thượng thư. Ông đã sáng tác, chỉnh lý, cải biên, dàn dựng hơn 40 vở tuồng và là tác giả tập sách có tính chất lý luận sân khấu mang tên Hí trường tùy bút. Ông là người sáng lập và chủ trì hoạt động rạp hát Như Thị Quan và hai gánh hát kiêm trường đào tạo nghệ thuật tuồng mang tên Học bộ đìnhtại thành Vinh (Nghệ An) và làng Vinh Thạnh quê hương, nơi diễn những vở tuồng của ông và là nơi đào tạo những nghệ sĩ tuồng xuất sắc nhiều thế hệ. Ông còn là tác giả của hơn 1000 bài thơ, từ và tập bút ký Mộng Mai văn sao. Nói chung, di sản nghệ thuật của Đào Tấn là hết sức phong phú, đồ sộ, hiếm có, ít người sánh kịp.





Mộ Đào Tấn trên núi Huỳnh Mai, xã Phước Nghĩa (Tuy Phước). Ảnh: X. Thức




Từ một thế kỷ qua, Đào Tấn đã được coi là bậc Hậu Tổ của nghệ thuật tuồng, một quốc bảo của văn hóa dân tộc, người đã đưa nghệ thuật tuồng lên những đỉnh cao chói lọi, người đã sáng tạo nên những kiệt tác sân khấu như “Hộ sanh đàn”, “Cổ thành”, “Trầm hương các”.

Cũng như cảm nhận của ông nghè Nguyễn Trọng Trì trăm năm trước khi đọc “Mộng Mai từ lục” của Đào Tấn:

Luật âm phóng khoáng Tô khôn sánh

Ý tứ cao xa Liễu khó bằng

Sông núi, nước nhà, oằn nặng nghĩa

Trăng hoa, oanh liễu, láng lai tình

Nghiên cứu thơ và từ của ông, các học giả Đặng Thai Mai, Nguyễn Huệ Chi, các nhà thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Hoàng Trung Thông và nhiều học giả, nhà thơ nổi tiếng nhiều thế hệ đều coi Đào Tấn như một nhà thơ lớn, một nguyên súy của thi đàn Việt Nam.

Từ chỗ ngộ nhận, ác cảm với vị trí một đại quan nhiều năm của một triều đình nô lệ, theo thời gian, với nhiều tài liệu mới được phát hiện và công bố, Đào Tấn đã được nhận diện là một chính khách yêu nước thương dân mẫu mực, người có tư tưởng dân chủ và khuynh hướng cách mạng ở một trong những thời kỳ nhiễu nhương, phức tạp nhất của lịch sử đất nước.

Còn nhớ, đầu những năm 1960, tại thủ đô Hà Nội, khi tôi viết những bài đầu tiên giới thiệu thân thế và sự nghiệp Đào Tấn gửi đến tạp chí Văn học, những người phụ trách biên tập ở đây đã rất nghi ngại không dám sử dụng vì cái lốt đại quan một triều đình bị cho là phản động trong lịch sử đất nước của ông. Phải đến khi nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai, Viện trưởng Viện Văn học, vốn là dòng dõi một văn thân yêu nước nổi tiếng xứ Nghệ, người hiểu rất rõ khuynh hướng chính trị tiến bộ của Đào Tấn khi ông làm Tổng đốc An Tĩnh, có ý kiến can thiệp, các tiểu luận này mới được in trên tạp chí.

Sau khi đậu cử nhân tại trường thi Bình Định năm 1867, từ năm 1871 đến năm 1904, ngoài 3 năm từ quan về tu ở chùa Linh Phong quê nhà thời “Tứ nguyệt tam vương” sau khi vua Tự Đức mất, Đào Tấn có gần 30 năm làm quan triều Nguyễn qua ba đời vua Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái. Bắt đầu từ chức Hiệu thư chuyên soạn tuồng trong cung Tự Đức, ông đã kinh qua các chức vụ khác như Tri phủ Quảng Trạch, Phủ doãn Thừa Thiên, Tổng đốc Nam Ngãi, Tổng đốc An Tĩnh, thượng thư các bộ Công, Hình, Binh và về hưu ở chức thượng thư bộ Công.

Nghiên cứu cuộc đời làm quan của Đào Tấn ta thấy có một mâu thuẫn kỳ lạ: bậc trọng thần thường được các vua Nguyễn sủng ái, có tuổi quan vào loại kỷ lục ở triều Nguyễn ấy lại là người chê trách, miệt thị chốn quan trường nhiều nhất trong thơ và từ của ông. Đào Tấn từng đau đáu với cái khổ, cái nhục, cái thẹn của những người làm quan như ông. Trong bài thơ “Viết tình cờ”, ông căn dặn các con:

Các con chưa tỏ sự đời

Lợi danh đâu phải phận người văn chương

Phong trần cha đã ê xương

Chớ chen vào chốn quan trường mà chi.

Dưới con mắt Đào Tấn, con người coi sự trong sạch của hoa mai là cốt cách của mình, quan trường thời ấy là chốn ô trọc, sâu mọt, bụi bặm, là nơi “nhân tình bạc tựa thu vân”, nơi “ô khóa lợi xiềng danh luôn trói chặt”, nơi đầy rẫy những kẻ “lộc vua ăn uổng, cột trời để xiêu”. Trong suốt 30 năm làm quan, giấc mộng lớn nhất, thường trực nhất trong ông là được từ quan, về quê, thỏa chí bình sinh “chỉ thích đề ngâm khắp dưới trời” của mình. Tuy vậy, giấc mộng ấy, với Đào Tấn, đã trở thành “thảm mộng” bởi ông đã không thể nào dứt nổi chốn quan trường mà ông cho là nhơ nhuốc ấy, đã từ quan về nhà, bị giáng bốn cấp, rồi vẫn ra làm quan trở lại. Đào Tấn chỉ được thỏa nguyện khi kế hoạch phục quốc của vua Thành Thái mà ông là một yếu nhân bại lộ, Đào Tấn bị buộc về hưu năm 1904, trước khi mất chừng 3 năm. Năm Đào Tấn mất cũng là năm vua Thành Thái bị Pháp buộc thoái vị.

Có một thời, chúng ta đã rất đơn giản, phiến diện khi đánh giá triều Nguyễn chỉ là một vương triều phản động, bán nước và cho rằng việc làm quan lâu dài trong một triều đình như thế dù sao cũng là một vết nhơ trong đời Đào Tấn. Nhiều người đã bênh vực Đào Tấn, nói ông đáng thương hơn đáng trách bởi đã ẩn nhẫn làm quan chỉ để làm tuồng, làm quan chỉ là cái xác, làm thơ, làm tuồng mới là cái hồn, trước sau Đào Tấn chỉ là một ông quan Tuồng.

Cách biện luận ấy xem ra không thật ổn. Dù thực tế, nếu không có điều kiện của một đại quan Đào Tấn thì rất khó có một sự nghiệp tuồng Đào Tấn đồ sộ như chúng ta đang có hôm nay. Khi đương chức cũng như khi hưu nhàn, ông đã dùng tất cả những bổng lộc của một đời quan để làm tuồng. Nhưng một người từng ba lần làm tổng đốc, bốn lần làm thượng thư, không thể nhận các chức quan vào hàng nhất phẩm, nhị phẩm triều đình chỉ để làm tuồng.

Các nghiên cứu lịch sử khách quan gần đây cho thấy triều Nguyễn không chỉ có mặt tiêu cực, phản động mà còn có những mặt tích cực, tiến bộ, có những đóng góp không thể phủ nhận trong tiến trình lịch sử dân tộc, các vua quan triều Nguyễn không chỉ là những bù nhìn thân Pháp, tay sai của đô hộ Pháp mà còn có những người yêu nước chân chính, nung nấu hoài bão và phấn đấu hy sinh cho sự nghiệp chống Pháp giành lại độc lập tự do cho đất nước. Đào Tấn thuộc vào bộ phận ưu tú này.

Nhà thơ Xuân Diệu đã rất tinh tế khi nhận xét rằng lời nhân vật Tiết Cương: “Thế sự đoản như xuân mộng/ Nhân tình bạc tựa thu vân/Nghiến răng cười cười cũng khó khăn/Ôm lòng chịu, chịu càng vui sướng” cũng chính là tâm sự của ông quan Đào Tấn, nói lên sự chủ động lớn lao của một người chấp nhận sự hy sinh, cảm thấy trong sự "nếm mật nằm gai" vì đại nghĩa của mình, một niềm vui, một hạnh phúc.

Có thể thấy cuộc đời làm quan của Đào Tấn, nhất là dưới triều Thành Thái, khi ông được giao những trọng trách như tổng đốc Nam Ngãi, tổng đốc An Tĩnh, thượng thư các bộ Công, Binh, Hình là một lựa chọn chủ động, đầy hy sinh vì nước vì dân của ông. Thấu hiểu những ê chề cay đắng của kiếp làm quan ở một thời vua không ra vua quan không ra quan, thời lộng hành của bọn xâm lược, của lũ sâu dân, mọt nước, thời của những đọa lạc, những phản bội ghê gớm, nhưng Đào Tấn, con người luôn “Thậm cảm hưng vong chuyện nước nhà” vẫn ở lại làm quan giúp vua Thành Thái là vì trách nhiệm của một sĩ phu khi đất nước suy vong, và vì ông tin rằng mình sẽ góp phần làm cho sự liêm chính và lòng trung nghĩa không chết, ngọn đèn cứu nước không tắt và tạo điều kiện cho những anh hùng cứu nước đã và sẽ xuất hiện. Có nhiều bằng chứng cho thấy, tinh thần dân tộc bất khuất, ý chí tự cường mạnh mẽ của vị vua trẻ Thành Thái có ảnh hưởng lớn của Đào Tấn, vị cận thần thân tín của ông. Không phải ngẫu nhiên mà người đương thời đã gọi Đào Tấn là “Kẻ ở ẩn tại triều”.

Riêng về sự liêm chính, vị thượng quan Đào Tấn đã xứng đáng là một chính khách mẫu mực, một tấm gương sáng cho các chính khách muôn đời. Dưới thời Tự Đức, ông được vua ban tặng các danh hiệu “thanh, thận, cần” (trong sạch, thận trọng, chuyên cần) và “bất úy cường ngự” (không sợ uy vua). Tiếp kiến Đào Tấn tại dinh tổng đốc ở Vinh năm 1902, thời Thành Thái, Gosselin, một võ quan cao cấp người Pháp đã phải ghi nhận sau gần 30 năm làm quan, Đào Tấn vẫn “tay trắng thanh bần”. Gosselin viết: “Một đời tận tụy trong nhiều chức vụ quan trọng nhưng Đào Tấn vẫn tay trắng thanh bần. Bấy nhiêu ấy đủ thơm danh hậu thế và làm cho đại nhân vượt lên trên hẳn nhiều đồng liêu khác ít được gương mẫu như đại nhân” (L’Empire d’Annam, trang 468, Vương Hồng Sển dịch). Sinh thời, đức liêm chính của Đào Tấn đã vang khắp “trong triều, ngoài quận”.

Là một ông quan thanh liêm, chính trực, nhân ái, Đào Tấn luôn luôn vì ích nước lợi dân thực thi chức trách của mình, bất chấp những hậu quả không hay có thể sẽ phải gánh chịu. Hầu hết những nơi Đào Tấn từng làm quan đều ca ngợi những ân đức mà ông đã làm cho nhân dân trong vùng. Đào Tấn từng cứu trợ nạn đắm thuyền của hơn 400 ngư dân đảo Hải Nam, được họ lập đền thờ sống ở đảo này. Bất chấp sự can thiệp của khâm sứ Pháp, ông quan “điềm tĩnh, khiêm hòa” ấy đã ra lệnh xử chém Bồi Ba, tên tay sai Pháp gây nhiều tội ác với nhân dân Huế. Khi bị điều ra nhậm chức tổng đốc An Tĩnh, Đào Tấn dâng sớ nói rõ: “Hoan châu là đất xung yếu, sĩ phu nhiều người học giỏi, sĩ khí hùng, dân trí tốt, tôi đến nơi chỉ làm cho được chữ Phủ (vỗ về) để cho dân được an cư lạc nghiệp. Còn chữ Tiểu (đánh dẹp) thì quan tiền nhiệm của tôi đã thành công...Tôi là quan văn, không làm được những việc quan tướng đã làm. Nếu triều đình chấp thuận tôi xin tựu nhiệm. Nếu bất thuận tôi xin chịu tội vi mạng”.

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa Huế, Đào Tấn từng nhận mật chỉ của Thành Thái để liên kết các nghĩa đảng Cần vương. Ông tham gia lập Duy Tân hội cùng các chí sĩ trẻ xứ Quảng như Nguyễn Hàm, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, che chở, tạo điều kiện cho Phan Bội Châu hoạt động, tham gia tổ chức việc Đông du của Phan Bội Châu và Cường Để. Đào Tấn còn kết thân với các văn thân yêu nước xứ Nghệ như Cao Xuân Dục, Đặng Nguyên Cẩn, có quan hệ mật thiết và là ân nhân của gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc, thân sinh Bác Hồ. Đào Tấn là người tiến cử họa sĩ Lê Văn Miến tham gia kế hoạch phục quốc bí mật của vua Thành Thái, chuyên vẽ mẫu vũ khí…

Đào Tấn làm nhiều thơ ca ngợi nhũng chí sĩ kháng Pháp như Hoàng Diệu, Hoàng Kế Viêm, Phan Bội Châu… Khi Phan Đình Phùng hy sinh trên núi rừng Vụ Quang, dưới danh nghĩa văn thân Nghệ Tĩnh, Đào Tấn đã có thơ và câu đối ca ngợi tiết tháo của người anh hùng họ Phan cực kỳ chấn động lòng người.

Bài thơ viết (tạm dịch):

Chẻ tre thế tưởng phục hai kinh

Công khó mười năm xót chẳng thành

Buồn nghe vua trẻ lo hòa nghị

Khóc thấy sơn hà tụ ánh minh

Tay giằng sông núi lòng chưa chết

Xác gửi trời sao khí vẫn sinh…

Còn đây là đôi câu đối:

Anh hùng thành bại chớ bàn. Lòng trung ấy, nghĩa lớn này, thề chung thủy trọn tình cùng chiến hữu. Anh linh son mực, đạo sách đèn nên phải trọng cương thường. Khá hận bấy: Ngôi nhà nghiêng đổ, một cây chống chẳng được nào! Cung lạnh khói tan, tiếng oán dậy rừng ai chẳng xót!. Huống đang lúc rồng bay mây ám, lại thêm tráo chác việc người. Thương thay La Việt giang san, văn hiến trăm năm trơ chiến địa!

Trời đất cổ kim còn mãi. Núi ngất cao sông chảy xiết vũ trụ này là của đấng trượng phu. Gió tuyết Lam Hồng, ngạo giá rét cũng hao mòn tùng bách. Biết sao đây! Sóng cả dâng trào, cột đá giữa dòng khó vững. Sao dời vật đổi, chạnh tình vườn cũ nghĩ càng đau! Lại gặp cơn giứ thốc nhạn lìa, trách bấy lòng trời chẳng giúp! Rõ thật Tùng Mai khí tiết, tinh thần một thác sáng trăng sao!

Hai tác phẩm tuyệt bút của lòng yêu nước trên cho thấy vị tổng đốc của triều Nguyễn đã không ngần ngại công khai đứng hẳn về phía những người cầm súng đánh Pháp.

Đặc biệt, thời làm tổng đốc An Tĩnh, vị chính khách kiêm nghệ sĩ tuồng Đào Tấn đã sử dụng tuồng như một thứ vũ khí sắc bén tố cáo sự thối nát của một triều đình phong kiến thân Pháp phản động, cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến thay đổi chế độ, thay đổi triều đại với các vở diễn như “Trầm Hương các”, “Hoàng Phi Hổ quá Giới Bài quan”, “Diễn Võ đình”, “Hộ Sanh đàn”... sau này trở thành những vở diễn, hay nhất, có sức sống lâu bền nhất của ông. Có thể nói đây là những vở tuồng cách mạng của Đào Tấn.

Nếu mười năm trong cung vua Tự Đức, tại “Duyệt thị đường”, Đào Tấn đã viết được hàng chục pho tuồng dù đã được vua phê là “kỹ thuật thần diệu” nhưng đều là những vở theo phụng sắc mà viết, cho vua và triều thần xem, chưa phải là những gì tâm đắc của ông. Thì tới “Như Thị quan”, rạp hát riêng của tổng đốc Đào Tấn, tuồng Đào Tấn đã có mục tiêu tâm đắc “làm mới mẻ chính trị, mới mẻ đạo đức”, cho đông đảo quần chúng nhân dân lao khổ, kể cả những người chưa biết chữ xem. Đây là những vở tuồng tràn ngập tinh thần dân chủ, trao gửi niềm tin cứu nước cứu dân cho những anh hùng trên non cao, suối sâu, những người đang bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Viết, dựng, diễn những vở tuồng cách mạng trên, ông quan Đào Tấn đã “Dùng ngọn bút làm đòn xoay chế độ/mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền”(Sóng Hồng).Dưới cái lốt một đại quan triều Nguyễn, Đào Tấn đã thực sự là một chính khách dân chủ, cách mạng.

Bởi vậy, chúng ta rất tự hào vì nghệ sĩ thiên tài Đào Tấn.

Chúng ta cũng hoàn toàn có thể tự hào vì nhân cách ông quan Đào Tấn, vị chính khách liêm chính, yêu nước, dân chủ, cách mạng Đào Tấn.

Một nghệ sĩ thiên tài và một chính khách yêu nước, cách mạng, không có sự kết hợp đó, sẽ không có một Đào Tấn vĩ đại mà chúng ta tự hào kỷ niệm hôm nay.

Viết trước ngày giỗ lần thứ 100 của cụ Đào 7.2007

Mịch Quang - BBĐ

 




Ngày tham gia: 13 4 2004
Số bài: 11432
Đến từ: U.S.A

Bài gửiGửi: 25/08/2007    Tiêu đề: Trả lời với trích dẫn nội dung bài viết này

Cõi Phật trong thơ Đào Tấn




Đào Tấn (ảnh: Xuân Thức)

Nếu có một cõi Phật trong thơ Đào Tấn, thì đó cũng là cõi trần mà thôi. Đào Tấn có bài Tự Phật – nghĩa là Phật ở mình – Phật tự ta, và lại có hai câu thơ trong bài Tặng Tăng: “Một mình ngồi ở cửa quan khốn khổ không việc gì làm – bèn đem trà núi tặng sư núi, buồn cười thật”. Vậy là thấp thoáng trong ông quan ở chùa, mà tu tại gia, tu tại tâm, tu chính trong nụ cười của mình, phảng phất nụ cười vô vi của Phật Di Lặc: “Việc xưa nay xếp an bài cả - Dâu biển, phù vân, cười như không”.

Cảm được cái “nhất tiếu không” như một công án của Di Lặc, Đào Tấn đã như đạt đạo. Có điều, ông không hé lộ nhiều về khả năng tham thiền của mình, không tự nhận mình đạt đạo. Ông chỉ viết những bài thơ đượm mùi thiền này như một đối trọng với những phiền lụy tuế toái của một đời làm quan. Và về thi pháp, có thể coi phần thơ thiền này như một phía khác với những lời thơ bi hùng trong các vở tuồng nổi tiếng của Đào Tấn. Là nhà thơ dù ở thời nào, đều có những khoảng lặng, đều có “lòng giếng” riêng trong tâm hồn mình như Nguyễn Du từng viết. Cái tâm “lặng như đáy giếng” ấy đã có trong ông quan Đào Tấn ngay từ lúc ông “đại ẩn” - ở ẩn giữa chốn quan trường. Một ông quan đầu tỉnh, một ông thượng thư trong triều mà chỉ đau đáu nghĩ về những nhân vật tuồng của mình, về những vở tuồng và những bài thơ nhỏ của mình, đó chẳng là điều lạ sao ? Thiếu gì nhà thơ, khi đã “bén mùi” quan, đã vùng vẫy trong chốn quan trường, đều hốt nhiên quên… thơ, hoặc coi thơ chỉ còn là những trò thù tạc, hay là những câu giảng giải đạo lý, những khẩu hiệu ghép vần (?).

Đào Tấn làm quan đến mấy chục năm, mà tác phẩm tuồng của ông có thể diễn liền mấy chục đêm không hết, mà những bài thơ của ông còn lưu truyền lại hàng trăm năm sau, đủ biết ông quan này không phải “quan chay”, cũng không phải kiểu “quan văn nghệ”, mà chỉ là anh nghệ sĩ, là nhà thơ đội lốt…"quan”, mượn chốn quan trường để hành nghề… văn nghệ. Và sống chết vì một vở tuồng, một tập thơ. Phần thơ tạm gọi là “thơ thiền” trong toàn bộ tác phẩm thơ Đào Tấn không nhiều. Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn đã cẩn trọng chọn ra được 13 bài, trong đó các bài như “Hoa Triêu dạ dữ nội hữu Diêu Tiên khanh du Diệc Cổ tự” chỉ là một cảm thức thời gian man mác, khi “Hai kẻ thanh xuân giờ đây đầu đều đã bạc”. Không biết về sau cụ Phan Khôi có được gợi hứng từ bài này cho bài thơ được coi là mở đầu phòng trào thơ Mới, bài Tình già: “Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa…”. Bài thơ của Đào Tấn thì viết: “Hai mươi bốn năm trước cũng đêm nay chúng ta cùng dạo chơi…”. Có thể nói Cõi Phật trong thơ Đào Tấn nhiều khi chỉ là cõi hoài niệm, và nhà thơ không hề quên mình là khách giang hồ đã mấy mươi năm chưa có dịp quay về ngôi chùa cũ. Hoài niệm ấy có khi là hình ảnh một bậc tiền bối, một ông quan ngất ngưởng cưỡi bò vàng mà có lẽ Đào tiên sinh hết sức ngưỡng mộ: nhà thơ Nguyễn Công Trứ :

Khách cưỡi bò vàng nay khuất bóng

Ai người với núi hẹn tao phùng

(Yến Lan dịch thơ)

Trong nguyên tác, Đào Tấn đã gọi thi sĩ họ Nguyễn này là “Hoàng độc thi nhân” – tức nhà thơ cưỡi bò vàng, với cốt cách và không khí hư hư thực thực như Lão Đam cưỡi trâu trong truyền thuyết, nó khác hoàn toàn với một ông quan thời nay vênh váo ngồi xe Lexus có giá những…ba nghìn con trâu (!). Và mơ hồ trong những bài thơ thiền là cái phong vị riêng của Đào Tấn. Không phải cõi Phật mơ hồ, mà vì mơ hồ vốn là bản chất của thơ. Đào thi sĩ đã dồn thi lực cho những bài thơ tứ tuyệt xinh nhỏ, và trong những bài thơ tứ tuyệt ấy, ông lại dồn cho hai câu kết sức nặng của sự lơ ngơ, của cái rỗng không, của “vô vi chi đạo”.

Cười đáp:“Bên trong có tảng băng,

Chẳng ăn chi cả, toàn rỗng tuếch”

(Xuân Diệu dịch, bài Tự Phật)

Cái “rỗng tuếch” (không không) ở đây hoàn toàn khác với cái “rỗng tuếch” của những anh “lỏng chữ” hay “loãng tâm hồn”, ngược lại, nó là cái rỗng không của khoảng trắng giữa hai dòng thơ, phần để sáng của bức tranh thủy mặc, cái mênh mông mu mơ của bầu trời chan chứa… Thơ Đào Tấn đã có những bài thơ tứ tuyệt tinh tế, nhưng hơn cả tinh tế, ông còn có những bài thơ tự nhiên nhi nhiên, những bài thơ khinh khoái như thể gió viết nắng làm cây lưu đá giữ: “Khối đá im lìm nằm giữ lấy chuông hư” (Vô ngôn ngọa thạch thủ tàn chung), một câu thơ ở vào hàng tuyệt bút. Cứ đi vào “Cõi Phật” trong chùm thơ Đào Tấn, người ta lại gặp… Cõi người với đầy những xúc cảm miên man, đứt nối của nhân duyên, của phận người. Có thể nói Đào Tấn chưa một ngày thoát khỏi cái “cõi tục” mà ông đã lựa chọn hay bị lựa chọn. Nhà thơ ấy không từ chối những hệ lụy của phận người, nhưng luôn biết vươn lên để nhìn lại, vượt lên để nhìn từ trên cao những hệ lụy ấy:

Một trăm lẻ tám tiếng chuông

Nỗi đau nhân thế đau từng đọt cây.

(Vũ Ngọc Liễn dịch, bài Vô đề)

Đọc lại câu thơ nguyên tác, rồi đọc câu thơ dịch lục bát, thầm cảm ơn người dịch thơ đã thấu hiểu lòng Đào Tấn: 108 tiếng chuông trong cõi Phật kia liệu có đối trị, có giải thoát được 108 sự phiền não, 108 nỗi đau trong thế gian này ? Hay khi những tiếng chuông buông nỗi đau lại như được nhắc lại, được mở vào một không gian xa hơn, bao trùm hơn ? Làm thơ lọ cần số lượng, cứ như những bài thơ ngắn này mà xét, Đào Tấn cũng đủ thi lực để được người đời công nhận là một nhà thơ lớn. Như dường như Đào tiên sinh không mấy quan tâm đến sự công nhận này. Ông cứ bình thản với thơ mình, bình thản với phận mình. Đời làm quan có thể sướng, có thể khổ, có thể vinh, có thể nhục. Đào Tấn đã không thể từ chối cái “phận làm quan”, nhưng ông cũng không từ chối số phận làm một nhà thơ, dẫu số phận ấy đầy bất trắc. Hiến mình cho những vở tuồng, cho những nhân vật mình sáng tạo, cho những câu thơ mình chợt viết trong đêm, Đào Tấn đã tự mình tạo cho mình một cõi. Đó không phải cõi Phật, chẳng phải cõi trần hay cõi… quan, đó là cõi… văn nghệ, cõi thơ. Đã vào cõi ấy tức là đã thiền, một cách tự nhiên, một cách dễ dàng.

Sư Mai Nam quốc lõi tham thiền

Tương nhạt dưa suông đặt yến diên

Say khướt, mũ sen rơi xuống đất

Các cô gái nấp rũ cười điên.

(Tặng Mai Tăng – Đỗ Văn Hỷ dịch thơ)

Đây là bài thơ tự trào của một người luôn tỉnh táo trước các chức danh, dù đó là chức danh thượng thư hay chức danh cao tăng. Nghĩ cho cùng, quên được cái danh của mình cũng khó, nhưng khi quên được rồi thì cái thực mới hiện ra.

Thanh Thảo - BBD

Tôn vinh danh nhân Ðào Tấn

--------------------------------------------------------------------------------
ND - Hy vọng lần kỷ niệm 100 năm Ngày mất của danh nhân Ðào Tấn vào ngày 27-8-2007 sẽ được tổ chức trọng thể cùng với Hội thảo khoa học nghiêm túc để một lần nữa tôn vinh danh nhân văn hóa kiệt xuất của Bình Ðịnh, đồng thời nghiên cứu, đánh giá thật đầy đủ con người và sự nghiệp của một nghệ sĩ lớn, một vị hậu tổ của nghệ thuật hát bội.


Ðào Tấn tự là Chỉ Trúc, hiệu Mộng Mai, Mai Tăng sinh ngày 27 tháng 2 năm Ất Tỵ (ngày 3-4-1845) ở Vĩnh Thạnh (Tuy Phước, Bình Ðịnh), từ thuở nhỏ, đã yêu tuồng và đã được thụ giáo cụ Tú Nhơn An (Nguyễn Văn Diêu) một người đã sáng tác những vở tuồng nổi tiếng như Ngũ Hổ Bình Tây, Võ Tam Tư chém cáo và đào tạo nên nhiều nghệ sĩ tuồng xuất sắc.


Năm 1860, Ðào Tấn thi đỗ cử nhân và ba năm sau được bổ nhiệm làm quan ở Huế.


Trong cuộc đời quan trường của mình, Ðào Tấn đã có dịp quan hệ với nhiều nhà yêu nước: Phan Ðình Phùng, Phan Bội Châu, từng bày tỏ thái độ bất bình với việc triều đình đàn áp phong trào Cần Vương, dẹp nghĩa quân Phan Ðình Phùng, nhu nhược để thực dân Pháp xâm chiếm Hà Nội cho nên có lúc bị triều đình giáng bốn cấp. Tuy sau này giữ đến các chức Thượng thư bộ lại, bộ công, nhưng trước âm mưu của bọn quyền thần, cụ đành xin về nghỉ vào năm 1904 và mất năm 1907.


Ðào Tấn là ngôi sao sáng chói ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 về thơ, từ và kịch bản tuồng. Ðào Tấn còn là nhà đạo diễn mẫu mực và nhà lý luận sân khấu sắc sảo. Từ điển văn học Việt Nam đã ghi rõ tên của Ðào Tấn như một danh nhân văn hóa dân tộc. Tên tuổi của Ðào Tấn không còn bó hẹp trong nước mà đang có tiếng vang rộng trên thế giới.


Ngành tuồng đã suy tôn Ðào Tấn là "Hậu tổ". Ðào Tấn là một người yêu nước thiết tha, thể hiện trong mối quan hệ của ông với cụ Nguyễn Sinh Sắc (thân sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh), với các nghĩa sĩ Cần vương. Ðào Tấn giúp đỡ Phan Bội Châu trong hoạt động chính trị. Ðào Tấn khóc Phan Ðình Phùng bằng một bài thơ thống thiết khi nghe tin Phan Ðình Phùng mất. Ðặc biệt, ông phản kháng triều đình nhà Nguyễn đầu hàng Pháp bằng những sáng tác tuồng đầy ẩn ý. Có thể nói, tư tưởng yêu nước, yêu dân và đề cao văn hóa dân tộc của Ðào Tấn được thể hiện trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác và lý luận nghệ thuật của ông.


Ðào Tấn là một nghệ sĩ, một danh nhân văn hóa lớn của dân tộc đã để lại cho chúng ta một di sản đồ sộ cả về sáng tác tuồng, thơ, từ và lý luận sân khấu, nhưng việc nghiên cứu và phổ biến về Ðào Tấn còn quá ít so với các danh nhân văn hóa khác.


Ðến nay mới có ba cuộc hội thảo khoa học: Ðào Tấn - con người và sự nghiệp tổ chức tại Quy Nhơn năm 1977, đã in thành kỷ yếu nhưng chưa được phổ biến rộng. Hý trường tùy bút của Ðào Tấn cũng được tổ chức tại Quy Nhơn năm 1979. Phong cách tuồng Ðào Tấn cũng tổ chức tại Quy Nhơn năm 2002 chưa in thành kỷ yếu.


Nhìn chung, cả ba cuộc hội thảo này chưa thật có tầm cỡ, chưa đi sâu về tư tưởng, về nhân cách, về thi pháp... Nói chung, chưa lý giải được những vấn đề cơ bản về con người và sự nghiệp của Ðào Tấn. Về vấn đề lý luận của Ðào Tấn qua tập Hý trường tùy bút cũng bỏ lửng và vấn đề Phong cách tuồng Ðào Tấn cũng chỉ mới lướt qua kết quả nghiên cứu sau hội thảo cũng không được quảng bá, không đưa vào cuộc sống. Những tuyển tập tuồng Ðào Tấn của Vũ Ngọc Liễn làm tuy có công phu nhưng in số lượng quá ít (từ 300 đến 500 cuốn) có tính chất tượng trưng thì chưa thể đi vào được đời sống của nhân dân cả nước. Chính vì thế, khi thành phố Hà Nội có đường Ðào Tấn, nhiều người Hà Nội không biết Ðào Tấn là ai? Truyền hình Hà Nội phải mời chuyên gia nói về Ðào Tấn, nhưng cũng chỉ là cơn gió thoảng mà thôi. Cũng như khi được mời viết về Ðào Tấn, một số GS, TS, nhà nghiên cứu ngành văn học - nghệ thuật từ chối vì chưa biết về Ðào Tấn. Thậm chí có người nói rằng chưa một lần xem tuồng Ðào Tấn và chưa đọc về Ðào Tấn bao giờ.


Như vậy, hình ảnh, tên tuổi danh nhân Ðào Tấn chưa quen, chưa thâm nhập vào cuộc sống xã hội là do chúng ta, những người phụ trách văn hóa từ trung ương đến địa phương chưa quan tâm đầy đủ, chưa có biện pháp tôn vinh và phổ biến danh nhân văn hóa. Không những vậy, còn có ý kiến quá chủ quan ngộ nhận rằng: Việc nghiên cứu Ðào Tấn đã đủ rồi, hội thảo về Ðào Tấn đã nhiều rồi, không còn gì để mà nói nữa! Quả thực là đi trong rừng mà không thấy cây, suy nghĩ quá giản đơn về nghiên cứu danh nhân, về di sản văn hóa dân tộc.


Riêng về việc kỷ niệm danh nhân Ðào Tấn thì chỉ mới thực hiện hai lần. Lần thứ nhất kỷ niệm 150 năm Ngày sinh Ðào Tấn do Viện Sân khấu Việt Nam liên kết với Hội đồng hương Bình Ðịnh và UBND tỉnh Bình Ðịnh tổ chức tại Nhà hát Lớn Hà Nội tháng 4-1995. Có nhiều Ủy viên Bộ Chính trị, đại diện QH và Chính phủ dự. Ðây là lễ kỷ niệm gây được ảnh hưởng lớn trong xã hội. Cách đây tròn 10 năm, vào tháng 7-1997, cũng Viện Sân khấu Việt Nam và Hội đồng hương Bình Ðịnh lại liên kết tổ chức lễ kỷ niệm 90 năm Ngày mất của Ðào Tấn tại Hà Nội.


Hy vọng lần kỷ niệm 100 năm Ngày mất của danh nhân Ðào Tấn vào ngày 27-8-2007 sẽ được tổ chức trọng thể cùng với Hội thảo khoa học nghiêm túc để một lần nữa tôn vinh danh nhân văn hóa kiệt xuất của Bình Ðịnh, đồng thời nghiên cứu, đánh giá thật đầy đủ con người và sự nghiệp của một nghệ sĩ lớn, một vị hậu tổ của nghệ thuật hát bội.


Và cũng qua sự kiện này, tiếp tục tuyên truyền, quảng bá về con người và sự nghiệp của Ðào Tấn sâu rộng hơn ở trong nước và nước ngoài, khai thác và phát huy những tinh hoa di sản văn hóa đồ sộ của Ðào Tấn trong cuộc sống hiện đại. Ðó là trách nhiệm của những người làm văn hóa dân tộc hôm nay.


GS HOÀNG CHƯƠNG

 

Để tiếp tục phát huy di sản nghệ thuật của Đào Tấn


Nhà thờ Đào Tấn tại làng Vinh Thạnh (huyện Tuy Phước). Ảnh: Đ.T.Đ

Làm thế nào để tiếp tục gìn giữ và phát huy những di sản nghệ thuật của Đào Tấn? Làm thế nào để quảng bá rộng rãi hơn về danh nhân văn hóa Đào Tấn? Những câu hỏi ấy được PV Báo Bình Định đặt ra với một số nhà hoạt động văn hóa. Dưới đây là những ý kiến tâm huyết…

ÔNG NGUYỄN AN PHA, PHÓ GIÁM ĐỐC SỞ VĂN HÓA - THÔNG TIN TỈNH:

Cần đẩy mạnh việc bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật của Đào Tấn

Những năm qua, ngành Văn hóa - Thông tin (VHTT) tỉnh đã có nhiều hoạt động thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy di sản nghệ thuật của danh nhân Đào Tấn. Tuy nhiên, bên cạnh đó, vẫn còn nhiều khó khăn trong việc gìn giữ và phát triển nghệ thuật hát bội ở Bình Định.

Thời gian tới, cần ban hành những chính sách thích hợp, nhằm gìn giữ nghệ thuật hát bội, như có chế độ ưu đãi cho đầu vào và đầu ra của nghệ thuật truyền thống và hỗ trợ cho hoạt động của các đoàn tuồng không chuyên.

Trong tương lai, Sở VHTT tỉnh sẽ đề nghị để Nhà hát Tuồng Đào Tấn thành lập được hai bộ phận là đoàn biểu diễn và đoàn thể nghiệm. Đoàn biểu diễn gồm các diễn viên trẻ, đảm nhận việc lưu diễn phục vụ nhân dân; còn đoàn thể nghiệm gồm các nghệ nhân, nghệ sĩ lớn tuổi, đảm nhận việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn các giá trị nghệ thuật, cũng như minh họa cho các vai diễn mẫu mực.

Sắp đến, với việc UBND tỉnh đồng ý cho xây mới lại Nhà hát Tuồng Đào Tấn, Sở VHTT tỉnh đã chỉ đạo chuẩn bị đầy đủ các tư liệu về Đào Tấn, để khi Nhà hát được xây mới, sẽ có một phòng trưng bày mới, quy mô hơn, về danh nhân Đào Tấn. Sở VHTT tỉnh cũng đã phối hợp với UBND huyện Tuy Phước tiến hành khảo sát, lập đề án xây dựng đền thờ Đào Tấn, để trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Không bao lâu nữa, trên khuôn viên làng Vinh Thạnh, đền thờ Đào Tấn sẽ được xây dựng nhằm tôn vinh danh nhân văn hóa lớn này của quê hương Bình Định.



NSƯT - ĐẠO DIỄN HOÀNG NGỌC ĐÌNH, PHÓ GIÁM ĐỐC NHÀ HÁT TUỒNG ĐÀO TẤN:

Phục dựng tuồng cổ trên cơ sở chia sẻ và tiếp nối tư tưởng Đào Tấn

Quan niệm của tôi khi dựng lại các vở tuồng cổ nói chung và các vở của Đào Tấn nói riêng, là khai thác để bảo tồn những gì mà các cụ ngày xưa để lại. Nhưng bên cạnh đó, phải biết trau chuốt và nâng những giá trị văn hóa đó lên, một cách khoa học bằng quan điểm hiện đại. Những tinh hoa trong tuồng cổ thì chúng ta giữ lại, nhưng những mặt còn hạn chế thì cũng phải mạnh dạn đổi mới để hoàn thiện hơn.

Kịch bản tuồng của Đào Tấn thường rất hay và chuẩn mực, nhưng một số điểm, tôi nghĩ, cần phải có điều chỉnh, để vở diễn không chỉ thấm đẫm hơi thở của thời đại Đào Tấn, mà còn phải phù hợp hơn với thời đại hôm nay. Trên cơ sở đó, trong quá trình dựng lại các vở của Đào Tấn như Hộ Sanh Đàn, Cổ Thành, Diễn Võ Đình… chúng tôi đã mạnh dạn có một số thay đổi so với kịch bản gốc. Sự thay đổi này không phải là thêm bớt một cách tùy tiện, mà chính là sự đồng cảm chia sẻ và tiếp nối tư tưởng của tác giả, trên cơ sở chắt lọc tinh hoa cổ để làm cái mới và chắt lọc tinh hoa mới để bổ sung cho cái cổ.

Đối với Nhà hát, việc phục dựng các vở Đào Tấn luôn là một thách thức lớn, nên chúng tôi luôn rất cẩn trọng khi tiến hành và lắng nghe ý kiến đóng góp từ nhiều phía, để hoàn thiện hơn.



NSND ĐÌNH BÔI:

Phải chú trọng đến khâu đào tạo để gìn giữ vốn cổ

Việc phục dựng lại các vở tuồng cổ nên tiến hành thận trọng, để đảm bảo tính nguyên bản cho vở diễn. Vở nào chúng ta đã nắm thật chắc thì hãy phục hồi, vở nào chưa hiểu hết thì không nên làm bừa, mà phải tìm hiểu xem có ai biết không để mời về chỉ dạy, kể cả những nghệ nhân không chuyên.

Cần phải chú ý đến vai trò đặc biệt quan trọng của việc đào tạo đội ngũ kế cận. Phải nâng cao hơn chất lượng khâu đào tạo, để thực hiện tốt việc “trồng người” cho nghệ thuật. Phải biết khơi dậy trong lòng mỗi em ngọn lửa nghệ thuật, để các em tận tâm khổ luyện hơn cho nghề diễn. Chương trình đào tạo cũng cần hợp lý và đảm bảo chính xác hơn, nhất là trong việc truyền dạy những vai diễn mẫu mực.

Nếu chúng ta đào tạo tốt thì sẽ có một đội ngũ kế cận tốt; mà đội ngũ kế cận có tốt, thì việc gìn giữ và phát huy vốn nghệ thuật cổ của cha ông mới đạt hiệu quả cao nhất.



NHÀ NGHIÊN CỨU VŨ NGỌC LIỄN:

Xây dựng một bộ phim về danh nhân Đào Tấn

Đào Tấn không chỉ là niềm tự hào riêng của Bình Định mà còn là niềm tự hào của nền nghệ thuật kịch hát Việt Nam. Do đó, Đào Tấn cần được giới thiệu một cách rộng rãi để nhiều người biết đến hơn. Vì vậy, sắp tới, tôi nghĩ, chúng ta cần làm tiếp hai việc. Một là in song ngữ các tác phẩm nghệ thuật của Đào Tấn để phát hành trong và ngoài nước. Hai là xây dựng một bộ phim nhiều tập về chân dung Đào Tấn, ở cả con người lẫn tác phẩm. Bộ phim sẽ là cách quảng bá trực tiếp nhất, rộng rãi nhất, hiệu quả nhất về danh nhân Đào Tấn. Và chính cuộc đời Đào Tấn sẽ tạo nên sức hấp dẫn cho bộ phim này.

Đồng thời, nên chăng, trên cơ sở vật chất và nghệ thuật của Nhà hát Tuồng Đào Tấn, chúng ta sẽ xây dựng, phục hồi lại một nghệ hiệu từng lừng lẫy một thời: Học bộ đình Đào Tấn. Học bộ đình Đào Tấn sẽ trở thành một trung tâm khoa học với chức năng: bảo quản, nghiên cứu, đào tạo và biểu diễn thực nghiệm. Học bộ đình Đào Tấn sẽ là bộ máy đầu não, là nơi đảm nhận việc gìn giữ và phát huy nghệ thuật hát bội Bình Định.

Hoài Thu(Thực hiện) - BBĐ

 

Kỷ niệm 100 năm Ngày mất danh nhân văn hóa Ðào Tấn (1907 - 2007)
Ðào Tấn - Niềm thao thức lớn





Ðến mùa thu này là tròn trăm năm ngày ra đi của Ðào Tấn. Trăm năm, khoảng thời gian vừa một kiếp nhân sinh, trọn một cuộc hóa thân, với vầng trăng tròn đầy, âu cũng là duyên.


Trong vở tuồng Cổ thành, Ðào Tấn đã cho Trương Phi hát:


Nhất nhạn hoành phi vân tế lộ,
Cô đăng trường chiếu nguyệt biên thành.


(Chiếc nhạn ngang trời mây nghẽn lối,
Ðèn cô rọi mãi nguyệt bên thành)


Câu hát đậm mầu sắc trữ tình đã mang lại cho Trương Phi một diện mạo mới - diện mạo tâm hồn - và mang lại cho tuồng một bước đột phá - từ nghệ thuật khuyến giáo sang nghệ thuật hiện thực tâm lý. Ðó cũng là một trong những câu thơ hào sảng nhất, cô đơn nhất rút ra từ gan ruột một đời người - đời thơ ký thác vào lời nhân vật. Chiếc nhạn bơ vơ, ngọn đèn cô độc. Nhất là "cô đăng trường chiếu..." - ngọn đèn lặng lẽ soi qua hàng thế kỷ, qua bao cuộc bể dâu...


Hằng năm, cứ vào những ngày này, làng Vinh Thạnh (Bình Ðịnh) lại rộn rã tiếng trống chầu đêm

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23291526