Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

Phạm Duy còn đó hay đã chết ? - phần 2

Dân ca, Tâm ca, Đạo ca, Tục ca...
Dân ca có nghĩa là gia tài chung của mọi người, không ai là tác giả, hay chỉ là vô danh. Vậy mà Phạm Duy đã mượn ý, mượn lời, rồi coi như của mình. Nhiều người như các quý ông Nguyễn Hữu Ba, Trần Văn Khê đã có nhận xét rõ ràng về vấn đề này và yêu cầu ông sửa lại. Riêng Nguyễn Trọng Văn, thẳng thừng và khó tính hơn coi như một thứ ăn cắp không hơn, không kém. Nguyễn Trọng Văn đà nhận xét khá nặng nề như sau: ”Ngòai thái độ lấy gia tài chung của dân tộc làm gia tài riêng của mình, lấy vinh dự của dân tộc làm bậc thang cho riêng mình, việc xử dụng trường ca cũng bị chỉ trích [14]

Khó có thể chấp nhận được tính nhập nhằng của ông. Ông đã nhập nhằng không để tên các bài phổ nhạc của các thi sĩ. Bậy lắm. Không thể làm thế được. Đề thêm tên tác giả, bản nhạc có thể vì thế mà mất gá trị đâu?

Nay lại nhập nhằng trong dân ca?

Trong việc sáng tác của ông đa dạng về thể lọai, còn đa dạng về đề tài. Phong phú, nhưng trùng lâp. Mâu thuẫn và không hợp lý. Các đề tài trong nhạc của Phạm Duy được ông thay đổi như chong chóng, nhảy từ lãnh vực này sang lãnh vực khác. Mỗi lần thay đổi thì ông lại giải thích thế này, thế nọ. Nhưng nghe không lọt tai tý nào.

Nó có vẻ tùy tiện, tùy cơ hội đưa đến. Nó không phải là những điều ông ấp ủ, xuất phát từ tim óc? Ít lắm, ông cũng phải trung thành với chính mình, trung thành với những điều ông ấp ủ. Vì không thể ấp ủ nhiều thứ cùng một lúc được. Vừa mong chấm dứt chiên tranh, vừa phản chiến, vừa hiếu chiến ?

Vào năm 1965, ông bắt đầu viết tâm ca. Ở thời điểm đó, viết tâm ca là có thể hiểu được, vì đúng thời điểm. Có vẻ thời thượng nữa. Mức độ gia tăng chiến tranh đến chóng mặt với sự tham dự trực tiếp của người Mỹ vào miền Nam. Tâm trạng chán ghét chiến tranh, mỏi mệt, thiếu chính nghĩa đã mỗi ngày một rõ mặt. Những người Thanh niên trẻ như Trịnh Công Sơn đã góp mặt và đã để lại những dấu ấn rõ nét qua những văn ảnh về bom đạn, xác người, quê hương rách nát.

Phạm Duy đóng góp bằng 10 bài Tâm ca, phổ thơ Nhất Hạnh. Trong 10 bài Tâm ca, có hai bài thật tiêu biểu như Tôi ước mơ, Gịot mưa trên lá. Theo Phạm Duy, bài Tôi ước mơ, ông chỉ làm trong 15 phút va tòan bộ 10 bài sọan trong một tuần. Những bài thơ đó thể hiện được tình tự nhân lọai, con người với những khát vọng, những ao ước ra khỏi cuộc chiến tranh này. Tình con người, tình tự nhân lọai thấm nhuần tư tưởng triết học, tôn giáo như hòa trộn vào nhau.

Nhưng tôi có cảm tưởng, ông đà không chuyên chở nổi thơ Nhất Hạnh. Âm nhạc Phạm Duy chưa tới. Thơ ở tầm cao mà nhạc không với tới. Người hát là giọng ca Thái Thanh, tuyệt vời trong Nghìn Trùng xa cách lại tỏ ra khiên cưỡng đối với những bài tâm ca này. Giọng hát đanh quá, chát chúa, sắc quá khi lên cao giết chết cái hồn tính trong Giọt mưa trên lá. Nhạc không tới, giọng ca không thích hợp đã tự hủy tâm ca của ông và dĩ nhiên thơ của Nhất Hạnh nữa. 10 bài tâm ca này, nay không thấy bài còn được nghe ai hát nữa?

Cũng có một số phản ứng của vài trí thức khuynh tả thời đó, Lý Chánh Trung, trên Bách Khoa gọi Tâm ca là ảo tưởng, vì tiếng hát to (trong tâm ca số 2) không thể nào to hơn súng nổ bên bờ ruộng già. Nguyễn Văn Trung thì cho Tâm ca là mê hoặc vì không thay thế được tư tưởng chính trị để dẫn tới một tranh đấu chính trị.[15]

Không nói tới vấn đề Phạm Duy chỉ sáng tác trong 15 phút. Đó là việc của ông. Nhưng chính bản thân người nghệ sĩ chưa trang bị đủ cái Spiritualité, để đi vào cái hồn, cái linh thiêng hòa nhập giữa tâm tình tôn giáo và chất nghệ sĩ? Ông thiếu một cái gì đó, dung tục mà chưa thóat tục. Vì vậy có một khỏang cách chưa quyện vào nhau giữa nhạc và thơ như trong trường hợp TCS. Mặc dầu Phạm Duy tự tin rằng: Tôi đã nói hộ thi sĩ. Và tôi xin ghi lại đây lời giới thiệu của nhà Lá Bối khi cho in tập nhạc: ”Tuy nhiên Lá Bối ghi nhận rằng những bài Tâm ca được trình bày trong đây, tuy cũng xuất phát từ trái tim, tuy cũng là ngôn ngữ khóc cười theo mệnh nước, vẫn còn mang một sắc thái đặc biệt: Đó là tính cách tâm linh nội hướng và ý hướng điều hợp” [16]

Khi Thích Nhất Hạnh nói tới khát vọng hòa bình, nói tới ước mơ thì người tu sĩ thi sĩ ấy gửi gắm trong đó một sức mạnh tâm linh, một khát vọng tôn giáo, một nguyện cầu cho việc giải quyết cuộc chiến tranh ấy. Đem cái sức mạnh tâm linh ấy đến như một giải pháp vĩnh viễn cho con người chẳng những xóa bỏ hận thù mà còn có thể xích lại gần nhau, như anh em? Ảo tưởng hay ước mơ? Đã gọi là ước mơ thì ai có thể cấm ông được? Quyền ước mơ là quyền tối thượng trong những tình huống thật sự bi kịch đối với một nghệ sĩ? Thừờng sự phê phán là dựa trên thực tế cuộc đời mà ước mơ thì lại thuộc một thế giới đi ra khỏi cuộc đời hay ở trên cuộc đời? Vậy thì sự phê phán có tỏ ra thích hợp không?

Thiếu cái chiều kích tâm linh trong việc phổ nhạc thơ Nhất Hạnh thì PD khó có hy vọng thành công?

Nhưng ngay cùng năm đó, 1965, người ta thấy Phạm Duy sản xuất hàng lọat những bản nhạc nghịch chiều, trái cựa như chửi cha nhau. Thọat đầu với Huyền sử ca một người mang tên Quốc. Một cách gián tiếp tôn vinh những người hùng trong chiến tranh, thần tượng hóa cái chết của phi công Phạm Phú Quốc và tiếp theo đó một lô hàng sản xuất như mì ăn liền mang nhãn hiệu: Cung khúc Võ Đại Tôn, Mùa Xuân máu đỏ, Bài ca tử sĩ cho người quê tôi. Còn tệ hơn nữa, cũng chính năm đó, một lô sản phẩm có tên: Một hai ba, chúng ta là lính cả làng, Thi đua biện luận, Nông thôn quật khởi, Tay súng tay cầy, Khóac áo màu đen, Nhân danh..

Chẳng hạn bài Nhân danh có những câu như:

Vì gia đình, tôi phải giết, phải giết
Giết mười người, giết mười người
Vì xóm làng, tôi phải giết, phải giết
Giết ngàn người, giết ngàn người

Tôi không có ý nói rằng không nên đề cao phi công Phạm Phú Quốc cũng như những bài thuộc xây dựng nông thôn của ông. Nhưng không thể cùng một lúc khát vọng hòa bình, ngồi lại với nhau, sau đó lại đòi giết, giết một người, giết ngàn người. Và kết thúc vào năm 1972 với chiến ca mùa hè 1972.

Tháng 3-1966

Chống chiến tranh, phản chiến, khát vọng hòa bình. Đó là những gì có thể tìm thấy trong tâm ca. Vậy mà cũng chính con người ấy, nghệ sĩ ấy, vào tháng 3-1966, ông được bộ Ngọai giao Mỹ mời viếng thăm Hoa Kỳ. Sau đó vào năm 1970, một lần nữa, ông được gửi sang Mỹ để “giải độc” dư luận Mỹ thường chống chiến tranh. Thật là trái khóay và chớ chêu quá.

Chuyến đi Mỹ này thật khó nghĩ quá. Đã vậy, bài hát tủ mà ông thường hát cho Mỳ nó nghe lại là bài Giọt mưa trên lá, vì có lời bằng anh văn.

Có đến ba bốn Phạm Duy trong những câu chuyện này.

Vỉa hè ca :

Sang đến năm 1968, ông sáng tác những nhạc phẩm có tên là vỉa hè ca, gợi hứng từ Chanson du pavé của Pháp. Vỉa hè ca gồm có các bài như Sức Mấy mà buồn, Nghèo mà không ham, Ô kê salem, Ô kê nước mắm.

Tục ca :

Thấy như chưa đủ dose, ông dấn thêm bước nữa, sản xuất tục ca để văng tục vào cái xã hội ông đang sống. Đã có 10 bài Tâm Ca thì tại sao không có 10 bài tục ca. Thế là 10 bài tục ca ra đời với những tên rất là tục như : Khỉ đột, Tình hôi, Nhìn L^`…, Em Đ.. Cầm cu… Trong bấy nhiều bài, tôi đọc bài Nhìn Lồn, tôi viết cho đủ chữ là ”tục tĩu quá’. Đã viết tục đuợc như thế mà còn ngại ngùng chi mà không viết đầy đủ chữ. Trẻ con nhìn lồn phụ nữ ngồi đi cầu, nhìn đủ thứ : lồn non, lồn non, hay lớn con, mập mạp, lồn mềm... Lồn tròn hoặc lồn móm mém … rồi cuối cùng có đứa nhìn phải đúng lồn mẹ nó. Tôi gọi là tục tĩu quá cũng không quá đáng. Lại một lần nữa, ông thú nhận viết tục ca là do ảnh hưởng Phạm Duy Tốn, nhất là nhạc sĩ Georges Brassens. Ông hay bắt chước quá. Và cầm nhầm nữa. Mấy bài tục ca này phần âm nhạc thế nào thì tôi không biết, nhưng phần lời ca thì thỏai mái và gratuit quá, chẳng để làm gì. Thật sự không biết để làm gì? Từ nhìn lồn sang đạo ca thì không biết phải nói thế nào.

Đạo ca :

Đến năm 1971, sáng tác của Phạm Duy rẽ sang một khúc quặt mới với sự gặp gỡ Phạm Thiên Thư, tức Thiền sư Tuệ Không. Phải nói rằng không gặp Phạm Thiên Thư thì không bao giờ Phạm Duy có ý tưởng viết đạo ca ? Sau khi đã đi qua một hành trình sáng tác từ Tâm ca, Tâm Phẫn ca, Vỉa hè ca, Tục ca, Chiến ca và nay thì bay lên chín từng không của Đạo ca.

Ở đây, đó là một bước nhảy vào điều mà ông gọi là Đạo ca. Điều gì đã khiến ông thay đổi như thế ? Khó hiểu mà cũng dễ hiểu. Chỉ là cái duyên gặp gỡ với Phạm Thiên Thư mà sinh ra cớ sự.

Thọat đầu tiên, Phạm Thiên Thư đưa ông bài thơ: Ngày xưa Hòang Thị. Thế là có bài Anh tan trường về. Thật dễ thương. Ai cũng thích và ai cũng hát. Nhất là trong những buổi họp mặt đông người.

Sau đó, Phạm Duy khóac áo Thiền sư.

Khi đạo ca ra đời, ông cũng nhận được một số lời khen của bạn bè như họa sĩ Nguyễn Gia Trí, G.E Gauthier và như thường lệ có họa sĩ Tạ Tỵ. Những khái niệm hóa thân, đại vũ tru, đồng nhất thể, mười phưong thế giới là một, hòa vào đạo, vào vũ trụ vv…. Tự nhiên, bỗng chốc ông được thừa hưởng hết những tinh hoa, cốt lõi cao diệu ấy, đạt tới chỗ siêu thóat mà chẳng tốn đồng xu cắc bạc nào.

Những lời khen trên có chỗ sai là người ta chỉ biết có ông, tưởng ông là người có những tư tưởng cao diệu mà không lý gì đến Phạm Thiên Thư cả.

Nhưng không sao, kẻ đã bỏ đời mà đi, thong dong đạo cốt theo tiếng chuông *Cam Lộ* như Phạm Thiên Thư thì còn xá gì ba tiếng thị phi. Ông cứ an tâm mà vơ hết về mình đi.

Nhưng Nguyễn Trọng Văn, một lần nữa đứng ở quan điểm con người dấn thân, nhập cuộc chỉ thấy ở đó một thái độ thóat ly, chạy trốn: ”Những tư tưởng thóat ly của Đạo ca quả thực là một thái độ chạy trốn … Những tư tưởng thóat ly của Đạo ca quả thực là một cái gì mỉa mai, lạc lõng nếu không phải là một cái gì ru ngủ … Đạo ca không phải một thăng hóa, trái lại là một thái hóa so với tâm ca.. Đạo ca là một nối dài của tình ca, tục ca... khi nhữing thứ này không đủ sức giúp người thành thị thóat ly khỏi hòan cảnh đau khổ trước mắt “[17]

Tôi không nghĩ như Nguyễn Trọng Văn, Đạo ca vẫn có chỗ của nó trong thời chiến. Chính ở những tình huống bi kịch đối đầu từng giây phút với cái chết, với khổ đau, Đạo ca là con đường tối ưu dần đưa con người ra khỏi trốn lưu đầy.

Và lúc nào, con người dù hạnh phúc hay khổ đau thì khát vọng về một thế giới bên trên vẫn là một khát vọng khôn nguôi.

Khát vọng tôn gíáo là một khát vọng bản thể, khát vọng vĩnh hằng.

Sau 1975 tại Hải ngọai

Trước khi chấm dứt hành trình sáng tác của Phạm Duy, chúng ta không quên: Bày chim bỏ xứ mà đến nay tôi chỉ được một lần nghe hát. Hình như số phận của nó cũng giống như số phận một số nhà văn sáng tác sau 1975 ở Hải ngọai?

Trong thời kỳ này, từ 1978 về sau, ông sáng tác và phổ nhạc tất cả gần 100 bài hát. Nhưng hầu như không mấy ai biết đến những bài này. Trong đó, tôi đặc biệt để ý đến thơ Cao Tần và thơ Nguyễn Chí Thiện, lọai thơ được coi là Chống Cộng mạnh mẽ nhất đã được ông phổ nhạc. Cạnh đó là những bản nhạc do ông phóng tác như Học Tập cải tạo, Phụ nữ Sàigòn, Độc Lập Tự Do.(Độc lập là mất Cam Ranh, Tự do là bán dân mình cho Nga, No là cơm độn bo bo, ấm là quần rách để thò Bác ra.)... Chống Cộng quá đi ấy chứ.

Chỉ cót thể nói, đó là Phạm Duy muôn mặt.

Chẳng ai còn biết tới những bài này nữa? Nó bỏ xứ mà bơ vơ lạc lõng nơi quê người, như chính thân phận bày chim bỏ xứ? Về già, về lại Việt Nam, một lần nữa, tôi lại được hân hạnh nghe ông trình bày sáng tác mới nhất của ông liên quan đến tác phẩm truyện Kiều. Tôi nghe mà không thấy thích thú gì.

Bữa đó ra về, tôi tự nhủ lòng là Phạm Duy đã hết rồi.

Cuối cùng thì cũng phải nhìn nhận với nhau rằng, có rất nhiều bất cập trong cuộc đời sáng tác của ông. Nhiều bản nhạc của ông cũng như cuộc đời của chính ông, số phận của nó sẽ không còn được ai biết tới.

Nhưng ông cũng đã để lại một số bài tình ca được coi là bất hủ, cũng như một số bài được gọi là dân ca thời kháng chiến khó có thể quên, cộng thêm những bản nhạc hùng, vui tươi dành cho giới trẻ hay du ca: Mẹ Việt Nam, Việt Nam, Việt Nam, Tôi yêu tiếng nước tôi, Em tan trường về. Kể chi hết được.

Một nhận xét nhỏ đây là lần thư hai, tôi đọc hồi ký của ông. Ông không có một lời phỉ báng bất cứ ai, nhất là giới nhạc sĩ. Dĩ nhiên không kể những lời giải thích rất tùy tiện, khá huyênh hoang, rất chủ quan về lý do tại sao sáng tác cái này cái kia.

Cũng trong bài này, tôi không nói tới những mối tình lớn nhỏ của ông. Một phần vì là đời tư của ông, một phần còn có cái gì để nói nữa, vì tự ông đã kể hết ra rồi trong hồi ký. Ai nói thêm nữa là thừa.

Thứ hai, chuyện ông chọn về VN ở tuổi trên 80 là một chọn lựa cá nhân chẳng nên nói tới làm gì. Tìm về VN ở tuổi đời như thế nên được rộng lượng hiểu là chuẩn bị cho một cuộc hành trình về bên kia thế giới như một giấc mơ hòai hương và chẳng nên đem những dấu ấn chính trị để phê phán ông làm gì? Và nếu hiểu con người Phạm Duy thì thấy rõ rằng, ông là người theo chủ nghĩa thực dụng, bất chấp những tiêu chuẩn giá trị người đời thường mang ra dùng để phê phán ông.

Cũng ở đây, tôi nhận ra rằng anh Nguyễn Trọng Văn cũng như bất cứ ai phê phán ông thì đã vấp phải sai lầm là đã đánh giá quá cao về ông, về vai trò người nghệ sĩ, đòi hỏi ở ông những điều ông không có được. Trước sau, ông chỉ là một người theo chủ nghĩa duy lợi, duy thực tiễn, chủ nghĩa cơ hội trong bất cứ tình huống nào.

Sau bài nói chuyện của Nguyễn Trọng Văn tại Đại Học Văn Khoa thì bạn bè có đưa ra nhận xét như sau: ”Cậu làm như vậy là cho ông ấy đội mồ đứng dậy, chính cậu tác tượng cho ông ta, chứ đâu phải khai tử ông ấy. Hoặc: ”Tư cách của Phạm Duy mà cậu lôi ông vào giảng đường Văn Khoa để nói tức là cậu biến ông ấy thành bất tử rồi, vinh hạnh cho Phạm Duy quá còn gì. Đáng lý phải nói bên cạnh đống rác hay cầu tiêu mới phải.” [18]

Những phát biểu bên lề như thế và một số nhận xét coi ông như một gái điếm đều là những nhận xét xúc phạm đến ông một cách bất công. Thật không nên.

Bài viết này có khen, có chê và cũng nhằm trả lại công đạo cho ông một phần.

Và vì thế câu hỏi ở đầu bài viết sẽ được trả lời là Phạm Duy còn đó và không thể chết, dù muốn dù không, dù thế nào đi nữa, ông cùng với Trịnh Công Sơn là những nhạc sĩ tài ba nhất của miền Nam Việt Nam Công Hòa trước 1975.

Giết ông thì Ta ở với ai?

- Nguyễn Văn Lục -

[1] Trích lại trong Phạm Duy đã chết như thế nào của Nguyễn Trọng Văn, nxb Văn Mới

[2] Trích Hồi ký, thời Cách mạng kháng chiến của Phạm Duy, trang 121-123.

[3] Trích sách Nguyễn Trọng Văn, như trên, trang 125

[4] Xem Hồi ký Phạm Duy, Thời phân chia Quốc Cộng, trang 91

[5] Trích Giám Mục Lê Hữu Từ và Phát Diệm, Đòan Độc Thư và Xuân Huy, 1945-1954 trang 152

[6] Về phía Phát Diệm, Lập trường của ĐC Lê Hữu Từ ghi lại trong biến cố ngày 16-10-1949 như sau:” Nhưng lập trường của Đức cha và Phát Diệm rất rõ ràng là chống cả Cộng Sản lẫn thực dân Pháp. Các việc người làm đã chứng tỏ sự ấy Ngài đã thẳng thắn trả lời một vị kia, khi vị ấy xét ngài không thể ở trung lập được phải chọn lấy một trong hai kẻ thù hoặc Pháp hoặc Cộng Sản, rằng: ”Tôi không theo Cộng Sản mà cũng không theo Pháp. Người ta có thể giết tôi được, song không ai có thể bắt tôi bỏ đạo cũng như không ai có phép bắt tôi bán nước chúng tôi được”[6]

Cũng trong cái tinh thần đó, căn cứ theo một điện tín của Durdin gửi cho tờ New York Times về lập trường của GM Lê Hữu Từ như sau:”Nous sommes anticommunistes, mais aussi nationalistes.. Nous voulons que le Viet Nam soit inđépendant et qu ‘à l ‘avenir tout contrôle francais disparaisse (…) En effet, les deux évêques se đemandent si le gouvernement de SM Bảo Đại a réellement obtenu une inđépendance suffisante pour mériter l ‘appui sans réserve de cette région catholique qui peut jusqu‘à ce jour se glorifier de ses sentiments nationalistes et anticommunistes…”[6] (Chúng tôi chống Cộng Sản, nhưng là những người quốc gia. Chúng tôi mong mỏi một nước Việt Nam độc lập và trong tương lai thóat khỏi sự kiểm sóat của người Pháp (…) Thật vậy, hai giám mục tự hỏi chính phủ của vua Bảo Đại có thực sự đạt được một nền độc lập đủ để xứng đáng nhận được sự ủng hộ tích cực của khu vực công gíáo Phát Diệm mà từ trước đến giờ, chúng tôi vẫn tự hào về tinh thần quốc gia và chống Cộng sản)

Và về phía người Pháp thì như nhận định của đại tá Gambiez như sau: ”La méfiance des évêques à l’endroit de la politique francaise et la réserve hostile envers le gouvernement central Vietnamien et l’administration régionale du Nord, plus une ferme volonté de conserver leur autonomie administrative”[6] Các giám mục tỏ ra nghi ngờ đường lối chính trị của người Pháp, và đồng thời có sự dè dặt ác cảm với chính quyền Bảo Đại cũng như nhà cầm quyền ở miền Bắc. Nói đúng như nhận xét của người Pháp thì Phát Diệm chơi trò *double jeu*, đu giây giữa Pháp và Việt Minh để bảo đảm sự an tòan của Phát Diệm. Cái double jeu này sau đó tỏ ra không hữu hiệu đi đến chỗ bắt buộc ngả hoặc theo bên này, hoặc theo bên kia. Phát Diệm đã chọn con đường theo Pháp. Không theo Việt Minh thì chỉ có một con đường duy nhất là theo Pháp mà đại diện là chính quyền Quốc Gia của Bảo Đại thôi.

Và họ là ai trong số 60 ngàn dân tị nạn ở Phát Diệm? Họ thuộc đủ thành phần Có người của Quốc Dân đảng, Duy Dân, Dân Tộc, Việt Quốc, Việt Cách, Xã hội, nhóm Bảo Hòang nhất là Đại Việt. Họ là những Lê Quang Luật, Trần Văn Chương, Ngô Đình Nhu, Nguyễn Tường Tam (sau trốn sang Tàu) Bùi Diễm, con cụ Bùi Kỷ, Nghiêm Xuân Hồng, Lý Đông A, Tạ Văn Nho. Trẻ hơn có Hòang Bá Vinh, còn gọi là Già Vinh, Trịnh Lâm, Minh Đức Hòai Trinh, Trịnh Lâm, Nguyễn Phương Thiệp, Trần Kim Tuyến.. Đặc biệt có Phạm Duy, Thái Hằng, Thái Thanh, Nguyễn Đức Quỳnh, Phạm Đình Sỹ và Kiều Hạnh, Phạm Đình Viêm đi theo kháng chiến, rồi cũng bỏ, từ chợ Neo kéo về Phát Diệm tìm đường dinh tê.

[7] Trích Hồi ký Phạm Duy, thời Cách Mạng kháng chiến, trang 324

[8] Trích hồi ký Phạm Duy, Thời Cách mang… trang 303

[9] Xem Hồi ký Phạm Duy, Thời phân chia Quốc Cộng, trang 91

[10] Hai câu thơ trên là của thi sĩ Trương Kế, sống giữa thế kỷ thứ VIII, ông người tỉnh Tô Châu, đỗ tiến sĩ. Nay, tại Hàn Sơn Tự, vẫn còn khắc mấy câu thơ trên. Trong một đêm trăng, ông đã ngồi tại chùa Hàn Sơn Tự mà viết bài Phong kiều du bạc

[11] Trích Tạ Tỵ trong Còn đó nỗi buồn, trg 117. Trích lại trong Nguyễn Trọng Văn, sdd, trang 49

[12] Trích lại trong Nguyễn Trọng Văn sdd, trang 65

[13] Trần Văn Khê, nhân xem Trường ca Con đường cái quan của Phạm Duy, Văn Học, trang 102 trang 69. Trích lại Nguyễn Trọng Văn, sdd, trang 66.

[14] “Trích Phạm Duy đã chết như thế nào ? NguyễnTrọng Văn, trang 63

[15] Trích Hồi ký Phạm Duy, thời phân chia Quốc Cộng, trang 205.

[16] Trích Ngàn lời ca của Phạm Duy, trang 168

[17] Trích tóm lược sđd của Nguyễn Trọng Văn, từ trang 116-118

[18] Trích Phạm Duy đã chết.. Nguyễn Trọng Văn, trg 128-130

 

Phạm Duy còn đó hay đã chết (tiếp theo)
bài viết : Nguyễn Văn Lục 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 23383811