Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Web về TQH

Đạm Thuỷ: Tiếng Đàn Cò - và Câu Hát Dân Ca Giữa Thành Phố Seattle.

 Tết in Seattle năm nay rơi vào những ngày mưa nhiều nhất trong mùa. Điều này đúng ra cũng chưa hẳn là trở ngại cho những người dân bản địa đã quen với cái tính mít ướt của bầu trời đa cảm ở tiểu bang Washington. Nhưng thật ra, theo ý đa số các ông, cái níu chân người ta nằm nhà là chương trình đấu bóng NFL (National Football League), lọt vào cuối tuần. Đó là ngày mà nhiều người hồi hộp chờ đợi mong đội nhà Seahawks thắng trận đấu với Pittsburgs trong Super Bowl này (rốt cuộc đã thua to !). Điều này đã làm giảm rất nhiều số người tham dự tổ chức Tết in Seattle. Dường như chương trình Tết được tổ chức có vẻ gấp rút nên không được quảng bá rộng rãi. Nhiều người không hay biết nội dung của chương trình.

Tiếng Đàn Cò - và Câu Hát Dân Ca
Giữa Thành Phố Seattle.




Đạm Thuỷ thực hiện dịp tết Bính Tuất:
tham dự buổi trình diễn, cảm tưởng, và
phỏng vấn cặp nghệ sĩ danh tiếng:
Bạch Yến - Trần Quang Hải
 



Tết in Seattle năm nay rơi vào những ngày mưa nhiều nhất trong mùa. Điều này đúng ra cũng chưa hẳn là trở ngại cho những người dân bản địa đã quen với cái tính mít ướt của bầu trời đa cảm ở tiểu bang Washington. Nhưng thật ra, theo ý đa số các ông, cái níu chân người ta nằm nhà là chương trình đấu bóng NFL (National Football League), lọt vào cuối tuần. Đó là ngày mà nhiều người hồi hộp chờ đợi mong đội nhà Seahawks thắng trận đấu với Pittsburgs trong Super Bowl này (rốt cuộc đã thua to !). Điều này đã làm giảm rất nhiều số người tham dự tổ chức Tết in Seattle. Dường như chương trình Tết được tổ chức có vẻ gấp rút nên không được quảng bá rộng rãi. Nhiều người không hay biết nội dung của chương trình.

Nhạc sĩ Trần Quang Hải đã có mặt trên sân khấu vài phút sớm hơn giờ trình diễn. Anh đang sắp đặt các nhạc cụ trên bàn. Chiếc đàn tranh, cây đàn Cò, (Đàn Nhị) và nhiều dụng cụ linh tinh nho nhỏ thuộc về đàn môi đều được bày biện theo thứ tự chương trình mà anh sẽ biểu diễn.

Ngoài khả năng điêu luyện về đàn tranh và đàn cò, những nhạc cụ đã có khá nhiều nhạc sĩ sử dụng, nhạc sĩ Trần Quang Hải độc nhất nổi tiếng về biểu diễn Đàn Môi (Jew’s Harp), Muỗng. Anh lần lượt trình diễn nhiều loại đàn môi mà anh sưu tập được từ các quốc gia khác nhau. Trước khi biểu diễn một thể loại, anh giảng giải rành mạch xuất xứ của nhạc cụ bằng cả hai ngôn ngữ Anh và Việt (cho khán thính giả Việt ở Mỹ). Tiếp đến màn biểu diễn Muỗng cũng ngoạn mục không kém. Nhạc sĩ Trần Quang Hải trình bày cách anh thao tác hai cái Muỗng, trông thật đơn giản, nhưng người viết tin rằng khó ai có thể luyện được để biểu diễn như anh.

Hàng ghế phía trước chúng tôi có một số người Mỹ gốc Âu Châu say mê thưởng thức buổi trình diễn. Họ theo dõi chăm chú và tấm tắc trong những cái lắc đầu thán phục tài nhạc sĩ mỗi khi những âm thanh từ nhạc cụ nhỏ xíu để bên miệng đã cọng hưởng (1) được tới mức tối đa.

Sau những màn độc diễn náo nhiệt với những tiếng vỗ tay của khán giả, nhạc sĩ bắt đầu giới thiệu đến ca sĩ Bạch Yến. Sau lưng tấm bích chương chắn che phía góc trái của sân khấu, khán giả có thể nhìn thấy hơn phân nửa của một vóc dáng bé nhỏ của một cô gái trong bộ áo « cập » (5 tà, áo lễ,áo hội) của vùng Bắc Ninh màu hồng đậm, lót hồng dợt.

với cháu MisaeDanh ca Bạch Yến bước ra sân khấu chào khán giả bằng một vòng tay trước ngực, cúi xuống thật sâu một cách trang trọng, đi đôi với nụ cười tươi thắm và niềm nở trên môi. Trên đầu ca sĩ Bạch Yến vấn tóc đuôi gà (bao nhung) theo lối trang phục cổ truyền miền Bắc. Bên cạnh, người nhạc sĩ với cây đàn cò (cái Nhị, đàn Nhị) đang với tay lên đầu cán so dây và bắt đầu kéo những âm thanh truyền thống của người Việt. Trong những ánh mắt chăm chú của khán giả, ca sĩ Bạch Yến bắt đầu ngay :
"Trên rừng ba mươi sáu cái chim là chim ... Có chim là chim chèo bẻo, có chim là chim chích chòe,.."
Những bài Dân Ca và điệu Lý và bài HÒ HỤI, bài hát làm việc của miền Trung được làm sống động thêm nữa khi ca sĩ Bạch Yến “mời khán giả tham gia trình diễn”. Nhân cơ hội này, hai đứa bé cháu của nhạc sĩ Trần Quang Hải được trổ tài phụ diễn rất ngoạn mục. Em bé trai Misae 5 tuổi được mời lên phụ diễn "Hò Khoan". Khán giả được thêm mấy phút rộn rã nao nao khi đứa cháu gái Kierra lớn hơn Misae vài tuổi xuất hiện trong màu vũ phụ họa. Em rất điệu nghệ trong điệu múa "Hái Hoa" và đã chiếm trọn con tim của khán giả.

Khán cảnh như thế, thính âm như thế, những người đã từng sống ở Việt Nam hơn vài mươi năm trước khi tha hương làm sao khỏi bị xao xuyến như gặp phải một cố nhân đã từ lâu xa cách ?

với cháu KierraSau màn trình diễn, cặp nghệ sĩ lừng danh đã thân thiện đứng chụp ảnh với các khán giả ái mộ. Có rất nhiều người đến vây quanh để được chụp ảnh kỷ niệm. Một người đàn ông trung niên lẩm bẩm vừa nói với chúng tôi "Mình muốn nhắc bài Đêm Đông phải hỏi thế nào?". Chưa hiểu rõ ý của ông thì đã thấy ông nhoài người ra chỗ ca sĩ Bạch Yến yêu cầu bài "Đêm Đông". Ông ấy bảo với ca sĩ Bạch Yến : "Mấy ông chú, mấy ông anh của tôi ngày xưa mê nghe chị hát bài này lắm!"

Ca sĩ Bạch Yến sẵn sàng và rất vui vẻ đáp lời yêu cầu mặc dù sân khấu không chuẩn bị màn trình diễn này. Bạch Yến hát không đàn không trống, và người nghe cũng chẳng cần trống hay đàn.
"Chiều chưa đi,... màn đêm rơi xuống!
Đâu đấy buông lửng lờ tiếng chuông,
Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời,
Cùng mây xám về ngang lưng trời .... "

và nàng tiếp tục cho đến hết bài.

Chúng tôi chờ đến người khách cuối cùng mới bước đến xin phép được phỏng vấn riêng. Được hân hạnh xem chị trình diễn trên sân khấu vài lần, nhưng hôm nay diện kiến tận mặt anh và chị lần đầu tiên là một hân hạnh rất lớn đối với chúng tôi.

ĐT (Đạm Thủy): Thay mặt cho điện giai phẩm “thoinayonline.com” xin anh và chị cho biết vài chi tiết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp về văn nghệ của anh và chị. ĐT xin bắt đầu hỏi chị trước.

Thưa chị. khi nhắc đến chị, những người bạn vong niên của chúng em thường nhắc “Bạch Yến Moto Bay đó mà, nàng oai lắm”. Vậy xin chị cho biết chị bắt đầu “bay Moto” từ lúc nào, cơ hội nào để chị học bay moto, và những kỷ niệm về thời đó.

BY (Ca sĩ Bạch Yến): Lúc đó tôi có người Cậu Út (em của Mẹ tôi) đã đào tạo một đoàn Môtô Bay Việt Nam người lớn (các anh chị con của anh, chị của Mẹ tôi) , ông nảy ra sáng kiến dựng một đoàn thiếu nhi khác người. Hơn nữa khi đó gia đình chúng tôi vừa không may bị cháy rụi nhà

ĐT: Chị có thể cho biết nguyên nhân hay cơ hội đưa chị ra nước ngoài sinh sống ?

BY:  Sau khi bị một tai nạn khá trầm trọng chúng tôi bị bắt buộc phải ngưng làm Môtô Bay, tôi trở lại với âm nhạc. Tôi thật sự đi hát “nghề” từ năm 1956 tới 57 tôi bắt đầu kiếm được nhiều tiền hơn, tôi đã dành dụm và tự đi Pháp học hát. Kế đó tôi may mắn được hãng dĩa POLYDOR mời thâu thanh và tôi đã thâu 3 dĩa 45 vòng (12 bản) xong tôi quay về V.N. thì được ông ED. Sullivan mời sang Hoa Kỳ hát trong buổi truyền hình lớn và nổi tiếng nhứt thời 1965 (có tới hơn 30 triệu khán gỉa toàn xứ Mỹ đón xem). Buổi truyền hình này nổi tiếng và tiếp tục có đông khan gỉa coi nhiều nhứt cho tới khi ông ED. Sullivan qua đời.

ĐT: Theo quan niệm của chị thì chi tiết nào quan trọng nhất trong việc trình diễn một bài hát ?.

BY:  Theo riêng tôi, khi chọn một bản để hát; trước nhứt là âm điệu (melody) hay, và thích hợp với mình, sau đó nghe kỹ lời ca.

ĐT: Thưa chị, trong những bản nhạc có những chỗ không tương ứng giữa các dấu trầm bỗng của tiếng Việt trong cung nhạc. Điều này có quan trọng hay không? Nếu có, chị cho vài thí dụ và đề nghị cụ thể với các nhạc sĩ về việc ký âm .

BY: Tôi rất tôn trọng nhạc và lời của tác giả. Nhưng đôi khi có những bản tôi rất thích mà không hát vì nhiều chỗ lời viết không đúng dấu với nhạc (hoặc ngược lại) nếu tôi quen với tác gỉa thì điện thoại hoặc viết thư ngỏ ý mình. Thí du: Đoạn giữa của bản CHO EM QUÊN TUỔI NGỌC của anh LAM PHƯƠNG Hơi men nồng cũng chẳng “Đủ say” hát vào nốt trầm nghe trái tai, tôi có xin phép tác gỉa sửa lại là “VỪA SAY “ dấu huyền êm hơn, xuôi tai hơn mà vẫn không đổi nghĩa của bản nhạc. Tác gỉa đã đồng ý. từ đó tôi hát bản này HƠI MEN NỒNG CŨNG CHẲNG “ VỪA SAY “.

Có những bản mà tôi đã nghe từ hồi nhỏ tới giờ thường bị khó chịu mà nhiều ca sĩ lớn nhỏ đều hát là bản “ĐÀN CHIM VIỆT “ cùa ông Văn Cao sáng tác từ thời 30? đoạn GIỮA của bài đó mà tôi thường nghe :

 "... Chìm Đàng bay qua Bắc sang Trung..." thật ra lời ca là CHIM ĐANG bay qua Bắc sang Trung

"... ÀI THÀ hương nghe réo rắt oanh ca ..."  thật ra lời ca là AI THA hương nghe réo rắt oanh ca .

Có rất nhiều bài tôi không thể kể ra đây bây giờ, tôi xin trích một bản tượng trưng, nhứt là THƠ lại càng phải tôn trọng lời hơn, thí du:

"TIỄN EM" Thơ CUNG TRẦM TƯỞNG Phổ nhạc PHAM DUY (đoạn cuối).

"... Nơi Em có trăng soi anh một mình Ơ LÁI ..." thay vì viết nhạc cho đúng Ở LẠI. Ông Phạm Duy bất kể lời thơ mà chỉ nghĩ tới đặt đúng ĐIỆP KHÚC cho đúng với đoạn đầu LÊN XE TIỄN EM ĐI CHƯA BAO GIỜ BUỒN THẾ (nơi em có trăng soi anh một mình Ơ LÁI), Ơ LÁI là gì? Thay vì viết nhạc cho hợp với dấu thì đúng lời của bài thơ hơn. Tôi sẽ bàn về các dấu trong âm nhạc Việt Nam sau.

ĐT: Thường thì các nghệ sĩ phải có thêm một nghề phụ hay chính để có thể sinh nhai, ca sĩ Bạch Yến có biệt lệ không ạ?

 BY: Trong số các nghệ sĩ quanh thế giới chỉ có số ít được thành công và sống bằng nghề “nghệ thuật” còn phần lớn nghệ sĩ đều phải có một nghề phụ để kiếm sống, vì nghề làm nghệ thuật rất bấp bênh thành công nhiều thì có thể là triệu phú, nhưng nếu chỉ thành công vừa vừa mà không có nghề bên cạnh thì chấm thất nghiệp dài dài.

Tôi không phải triệu phú nhưng rất may mắn chỉ đi hát để sống từ ngày bước chân lên sân khấu tới giờ. Có lẽ nhờ tôi hát Tân Nhạc được mà hát nhạc Dân Tộc cũng được nên tôi “ĐƯỢC “ bận rộn mời diễn quanh năm.

ĐT: Chị có thể nhớ đã đi trình diễn bao nhiêu lần ở những quốc gia nào không?

BY: Tôi xin kể tóm tắt như sau: 2 năm ở Âu Châu Pháp (France), Bỉ (Belgium, Belgique), Áo (Austria, Autriche), Đức (Germany, Allemagne), mỗi đêm diễn 1 lần (không có ngày nghỉ).

12 năm ở Bắc Trung và Nam Mỹ tôi diễn 2 lần mỗi đêm và 6 ngày mỗi tuần. Bắc Mỹ tôi đã diễn ít nhứt 2 thành phố trong 46 tiểu bang cho khán giả Hoa Kỳ. Tôi đến diễn ba năm 4 lần Mexico City và Acapulco cho khán giả nhiều nước khác nhau (trừ V.N.), mỗi năm diễn 3 tháng. Một lần (2 tuần) diễn trong phòng chánh của khách sạn quốc tế HILTON INTERNATIONAL và xuất hiện mỗi ngày ở truyền hình ở PANAMA (TRUNG MỸ). Một lần ở CARACAS xứ VENEZUELA (NAM MỸ) trong buổi truyền hình nổi tiếng nhứt (thời 70) với ông Amador BENDAYAN. Một lần xuất hiện ở truyền hình ở BOGOTÁ xứ COLOMBIA (NAM MỸ). Bốn tuần ở Curaçao ANTILLES.

ĐT: Gần đây, đột nhiên xuất hiện ca sĩ Trường Vũ ca giống như Chế Linh. Ca sĩ Bạch Yến đã hát khắp nơi từ rất lâu, có bao giờ chị để ý xem có ai có tiếng hát giống Bạch Yến, hay ít nhất là cách trình diễn giống chị hay chưa?

BY: Trong nhiều năm qua tôi ước mong gặp người hát giống tôi (như ngày xưa tôi rất thích bà Édith PIAF hay DALIDA mà tôi đã bắt chước y hệt). Tôi chỉ thấy có cô Em cô cậu của tôi là Uyên Phương giọng rất giống tôi nhưng trong và hay hơn giọng tôi. Cách trình diễn thì hoàn toàn khác.

ĐT: Trong các ngôn ngữ trình diễn, chị thích trình diễn bài hát thuộc ngôn ngữ nào nhất? Xin chị cho biết động lực nào hay cơ hội nào khiến chị thích hát mỗi ngôn ngữ khác ?

BY:  Lúc chưa đi ngoại quốc học hát, tôi thường bắt chước hết ca sĩ ngoại quốc nọ tới ca sĩ ngoại quốc kia hát tiếng Pháp đến tiếng Anh (tuy chưa biết nói tiếng Anh). Sau khi đã có học hát và học cách lên sân khấu, tôi có nhiều nhân cách (personality) thì thấy không phải chỉ trong nước hát nhiều thứ tiếng lương cao hơn mà ở hải ngoại cũng lợi hơn, tôi có chỗ đứng đặc biệt hơn ca sĩ Tàu, Nhựt, Đại Hàn họ đã ở Hoa Kỳ từ 50 tới 100 năm trước tôi dĩ nhiên chỉ hát tiếng Anh thôi thì tài nào tôi cạnh tranh nổi họ. Nhờ tôi hát những thứ tiếng mà những ca sĩ Á Châu khác hát không giỏi hoặc không hát được như tôi hát, tiếng Tây Ban Nha (Spanish, Español) tiếng Pháp (French, Français) hay tiếng Ý (Italian, Italien, Italiano) tiếng Do Thái (Hebrew, Hébreu)

Tôi thích hát tiếng Tây Ban Nha qua những bài tình nức nở hơi đau khổ. Tiếng Ý thì bel Canto, tiếng Anh thì hát điệu Swing, tiếng Pháp thì điệu Valse chẳng hạn, nhưng đôi tôi cũng nghịch hát tiếng Pháp qua điệu Bossanova cho lạ, thay đổi không khí bình thường.

ĐT: Chị có ra CD để bán ngoài thị trường hay không,. Và nếu có, được bao nhiêu CDs ? Trong cuốn CD Souvenir, chị đắc ý nhất bài nào nhất? Xin cho biết một tí giai thoại của bài hát đắc ý đó nếu có.

BY:  CD “Souvenir” tôi thích tất cả vì đó là những bản kỷ niệm (như tên tựa của CD Sovenir) mà tôi đã và đang gặt hái nhiều thành công, tôi còn nhiều bài khác đắc ý và luôn được ưa thích mà tôi vẫn và sẽ hát vì tôi vẫn còn được yêu cầu hát lại. Tôi sẽ hát lại những bản nhạc đó cùng những sáng tác mới trong lần xuất hiện tới ở vùng Virginia bên Mỹ, và Paris mừng 50 năm đi hát của tôi.

ĐT: Thưa chị, đàn bà không cần nói tuổi cho người khác. Nhưng ĐT xin hỏi chị những bí quyết hay thói quen về bất cứ vấn đề nào đã giữ cho chị thân hình vẫn thon nhỏ và gương mặt trẻ trung cho đến hôm nay?

BY:  Tôi sanh năm 1942. Mỗi sáng uống 1 lít 1/2 nước, chỉ tập thể dục2 phút mỗi ngày và ngừng ăn trước khi no. Tôi không kiêng cử ăn bất cứ món nào. Tôi không ăn thịt HEO vì tôi đạo Do Thái Ha ! Ha! Ha!

ĐT: Cám ơn chị đã chia xẻ tâm tình. Chị có muốn nói gì thêm với các bạn đọc điện giai phẩm thoinayonline.com hay không ?

BY: Nếu quý vị thật lòng yêu nghệ sĩ tôi mong quý vị tiếp tục ủng hộ nghệ sĩ nói chung bằng cách mua CD hay DVD chớ nên mượn hay nhờ bạn COPY. Khi copy CD hay DVD quý vị vô tình giết chết nghệ sĩ.

Đạm Thủy xin có một câu hỏi cho cả anh Trần Quang Hải và chị Bạch Yến để chuyển sang hỏi về anh.

ĐT: Trong khi anh chị rất trân trọng với sự truyền bá văn hóa nhạc dân tộc cho khắp thế giới, anh chị có thấy ở đâu hay hy vọng ai sẽ thay thế anh chị tiếp tục việc làm này chưa?

TQH (nhạc sĩ Trần Quang Hải): Cho tới ngày hôm nay , sau hơn 40 năm đi vòng quanh thế giới vừa trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại cũng như tại khắp các quốc gia mà chúng tôi đã đi qua (65 xứ), tôi vẫn chưa tìm được ai có đủ kiên nhẫn chịu bỏ ra 10 năm để theo tôi học hỏi và đáp ứng những điều kiện tôi đưa ra là : có khiếu âm nhạc, giỏi sinh ngữ, có óc sang tạo, bằng long học nhạc học và dân tộc nhạc học , có thể trình diễn nhiều loại đàn khác nhau . .

ĐT: Theo nhạc sĩ biết, đã có nhiều người (kể cả ngoại quốc) trình diễn về bộ môn nhạc miệng này chưa ? Lý do của sự hiếm hoi (nếu điều nhận xét này đúng.

TQH: Chị muốn nói môn “hát đồng song thanh “ hay là “đàn môi” ? Nếu là hát đồng song thanh thì hiện nay có rất nhiều người trên thế giới đã mở lớp dạy ở nhiều quốc gia (đa số là học trò của tôi vì tôi đã dạy hơn 30 năm nay tại trên 50 quốc gia, và tôi đã có hơn 8.000 học trò) . Nếu là “đàn môi” thì trên thế giới có khoảng 30 quốc gia có đàn môi . Mỗi ba năm có một đại hội liên hoan thế giời về đàn môi . Tôi đã tham dự đại hội lien hoan thế giới về đàn môi tại xứ Yakutia (Tây Bá Lợi Á) vào năm 1995, tại thành phố Molln (xứ Áo) vào năm 1998, tại vùng Telemark (xứ Na Uy) vào năm 2002 . Năm 2006 sẽ có đại hội lien hoan đàn môi tại thành phố Amsterdam (Hà Lan) từ 28 tới 30 tháng 7, 2006 . Tại xứ Việt Nam có hơn 10 loại đàn môi của các sắc tộc mà đa số người Việt sắc tộc Kinh không biết hay chưa biết .

ĐT: Bị méo mó nghề nghiệp, ĐT xin nêu một góc cạnh khoa học của âm thanh. Qua các buổi trình diễn của nhạc sĩ mà Đạm Thủy được hân hạnh nghe thấy, nhạc miệng dường như chỉ giới hạn trong những tần số (frequency band) thấp, hoặc hẹp, thưa anh có đúng như thế không?

TQH: Điều này không đúng . Khi hát đồng song thanh, tôi hát nốt chánh ở vào tần số 160Hz và tôi giữ nốt này ở một cao độ không di chuyển . Trong khi đó , tôi tạo giai điệu bằng bồi âm phía trên nốt chánh (gọi là overtones hay harmonics) . Âm giai bồi âm tôi dung để hát những giai điệu ngũ cung gồm có bồi âm số 6, 7, 8, 9, 10 và 12 . Như vậy cao độ của các bồi âm theo những tần số sau đây nếu nốt hát chánh là 160 Hz . Bồi âm 6 có cao độ tần số 160Hz x 6 = 960Hz, bồi âm 7 có tần số 160Hz x 7 = 1120 Hz, vv cho tới bồi âm 12 có tần số 160 Hz x 12 = 1920 Hz .

Còn về đàn môi cũng tương tự như vậy . Cao độ của nốt chánh có thể thấp hay cao tùy theo cây đàn môi to hay nhỏ , có thể đi từ 80 Hz tới 200 Hz . Rồi từ đó với việc sử dụng bồi âm có thể đạt tới cao độ tần số lên tới trên 3.000 Hz (cao hơn hát đồng song thanh)

ĐT: Nếu vấn đề Đạm Thủy đặt trong câu hỏi bên trên là đúng, xin anh một chút giải thích tại sao như thế, vì hình thức của nhạc cụ, hay vì giới hạn của lòng miệng?

TQH: Câu hỏi trên không đúng , nên xin miễn trả lời câu hỏi này .

ĐT: Và, có phải vì thế mà nhạc miệng không thể dùng để hòa âm với những nhạc khí khác ? Xin anh khai triển thêm về vấn đề này.

TQH: Nhà soạn nhạc Mỹ Charles Ives đã viết một concerto cho đàn môi và dàn nhạc giao hưởng theo đường lối nhạc cổ điển tây phương đương đại . Ở xứ Áo đàn môi được trình diễn chung với nhiều nhạc khí nhạc thời Trung cổ (Musique médiévale – Medieval Music), nhạc thời Phục Sinh (Musique de Renaissance) .Trong dân nhạc Âu châu , đàn môi được trình diễn với các nhạc khí dân tộc khác chứ không có vấn đề bị giới hạn trong việc trình tấu .

ĐT: Thưa anh, động cơ nào làm anh chú ý đến nhạc miệng? Và anh bắt đầu luyện nhạc miệng từ lúc nào. Xin anh cho biết một chút kỷ niệm hay giai thoại quanh việc học nghề hay lúc biểu diễn.

TQH: Tình cờ tôi tham dự một buổi thuyết trình về đàn môi qua khía cạnh âm thanh học tại đại học khoa học ở Paris vào năm 1965 . Buổi đó do một nhạc sĩ người Anh tên là John Wright . Anh này trình bày những nét đặc thù của đàn môi xứ Anh và tạo sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu nhạc dân tộc , âm thanh học, sang tác, vv Sau buổi hội thảo, tôi tới gặp anh John Wright và hỏi cách đàn ra sao . Anh ấy chỉ cho tôi cách cầm đàn, và khảy cái lưỡi gà trong miệng như thế nào . Sau bài học đầu tiên, tôi đi mua ngay một cây đàn môi ở một tiệm bán đàn tại Paris và bắt đầu tự tập lấy . Sau đó tôi có dịp làm quen với anh John Wright và kết bạn với anh ấy . Qua nhiều lần gặp gỡ và sau đó tôi có dịp cùng trình diễn với John Wright , tôi được anh mời thu vào dĩa đàn môi của anh vào năm 1971. Từ đó tôi tự phát triển thêm kỹ thuật và tôi đã sang tạo nhiều cách gảy đàn môi . Sau 40 năm tôi đã nắm vững tất cả kỹ thuật đàn môi trên thế giới (hơn 200 loại đàn môi của 30 quốc gia) . Tôi nhớ có một lần tôi được mời sang Berlin tham dự đại hội nhạc techno , tôi một mình đứng trên sân khấu chỉ dung có một đàn môi tạo thành âm thanh techno và trên 500.000 người đã nhảy say sưa qua tiếng đàn môi của tôi . Đó là một kỷ niệm khó quên .

ĐT: Nhìn các nhạc cụ miệng mà anh trình bày trên sân khấu rất nhỏ bé mong manh. Có khi nào nhạc cụ miệng bị gãy hư trong lúc anh đang trình diễn không?

TQH: Cây đàn môi rất yếu , rất dễ bị gảy , nhứt là đàn môi của dân tộc Hmông . Tôi thường bị gảy đàn trong lúc trình diễn . Chỉ có một cây đàn môi không bị gảy là cây đàn môi Khomus của người Yakut (vùng Tây Bá lợi Á) mà tôi mua với giá 500 US dollars . Đây có thể nói là một trong vài cây đàn môi mắc nhứt thế giới . Tôi có cây đàn này từ năm 1995 cho tới nay và tôi luôn mang theo người để có thể trình diễn bất cứ lúc nào . Chỉ có đàn môi của người Hmông và những đàn môi bằng tre là dễ bị hư nhứt

ĐT: Xin anh cho biết anh có tự sáng tạo ra các dụng đó hay hoàn toàn đặt mua ở đâu ? Mỗi dụng cụ như thế anh dùng được bao lâu ? Xin anh cho biết cả thảy mấy loại nhạc miệng mà anh dùng để biểu diễn ?

TQH: Năm 1997, tôi có thử nhờ một người bạn tên là Hồ Bách Nghĩa (làm nghề thợ bạc ở Việt Nam , sang Pháp đoàn tụ gia đình) làm một cây đàn môi thể nghiệm mang tên là “Trần Quang Hải” hình thù hơi giống đàn môi người Hmông, nhưng được làm bằng kim khí đồng, thau, và vàng pha trộn lẫn nhau . Sau nhiều lần thử , kết quả chưa được thỏa mãn cho lắm . Tôi chỉ có 10 cây đàn môi mà hiện nay tôi còn giữ vài cây làm kỷ niệm vì âm thanh không đạt như ý tôi muốn nên tôi bỏ ý nghĩ tiếp tục việc sáng tạo đàn môi . Tôi có mua rất nhiều đàn môi , và cũng có được tặng nhiều đàn môi . Hiện nay tôi có trên 300 đàn môi thuộc nhiều loại , hình thù khác nhau từ nhiều quốc gia (Trung quốc, Nhật, Ấn độ, Ba Tư, A phú hãn, Thái Lan, Cao Miên, Lào, Việt Nam, Nam Dương , Phi Luật Tân, Mông Cổ, Tuva, Baskorkostan thuộc Á châu; Pháp, Anh, Đức, Hòa Lan, Thụy Sĩ, Ý , Tây ban nha, Hung gia lợi, Lỗ Ma Ni, Na Uy, Thụy Điển thuộc Âu châu; Cameroun, Nam Phi thuộc Phi Châu; Hoa Kỳ, Á căn đình thuộc Mỹ châu; và của xứ Papu gần Úc châu ). Trên sân khấu vì thời giờ có hạn, tôi chỉ biểu diễn khoảng 6 loại đàn môi tiêu biểu cho sự khác biệt vừa hình thù, vừa kỹ thuật .

ĐT: Con người vốn hay có tính tò mò đối với các nghệ sĩ. Lần trình diễn ở Seattle, Đạm Thủy nghe nhiều người hỏi nhau: “Hai người có phải là vợ chồng hay không ?” Nếu không có gì bí mật, xin anh cho biết và cảm tưởng về câu hỏi này.

TQH: Tôi gặp Bạch Yến lần đầu tại Paris vào đầu năm 1962. Lúc đó tôi chỉ là một sinh viên nghèo mới sang Pháp để học về ngành nghiên cứu nhạc học tại đại học đường Sorbonne. Bạch Yến lúc đó đã là một nữ danh ca nổi tiếng ở Việt Nam qua bài Đêm Đông của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và những bản nhạc ngoại quốc loại rock and roll (Tutti Frutti, Rock Around the Clock) hay loại nhạc mambo (như bài Mambo Italiano) hay các bản do Brenda Lee, Dalida (Bambino). Lúc đó chỉ quen biết thôi. Rồi Bạch Yến trở về Saigon sau 2 năm sống ở Pháp thực hiện 3 dĩa 45 vòng nhạc Twist với hãng dĩa Polydor. Sau đó Bạch Yến được Ed Sullivan mời sang hát trong chương trình Truyền hình Ed Sullivan Show vào năm 1965. Thay vì ở hai tuần bên Mỹ, Bạch Yến đã lưu lại tại Mỹ từ đó luôn cho tới năm 1978. Suốt thời gian ở Mỹ, Bạch Yến đã hát chung với Bing Crosby, Bob Hope, Liberace, vv. và đi khắp 46 tiểu bang Mỹ và nhiều quốc gia ở Trung và Nam Mỹ. Năm 1978, Bạch Yến sang Pháp, ghé Paris. Trong một chương trình đại nhạc hội , tình cờ tôi gặp Bạch Yến. Hai bên mừng rỡ sau 16 năm không gặp nhau. Rồi chúng tôi đi ăn cơm chung, kể cho nhau nghe những sinh hoạt nghệ thuật. Sau cùng chúng tôi đi tới hôn nhân vào ngày 17 tháng 6, năm 1978. Bài "Tân Hôn Dạ Khúc" tôi viết năm 1978 là quà cưới của tôi tặng cho Bạch Yến thay thế hột xoàn, vì tôi nghĩ rằng hột xoàn có thể bán đi, hay bị mất, còn bản nhạc thì ở mãi mà lại còn có thể truyền lại cho đời sau. Tôi lại nghĩ xứ mình ít có bài hát đặc biệt cho đám cưới. Sau này Elvis Phương, Thiên Nga, Bạch Yến thường hay hát cho những dịp đám cưới. Sau 22 năm, bản nhạc vẫn còn sống mạnh (có thu vào băng nhạc, và dĩa CD).

ĐT: Quang cảnh trình diễn song đôi Trần Quang Hải & Bạch Yến đã ghi đậm nét trong lòng nhiều khán giả, và làm nhiều người ngưỡng mộ. Thưa anh, bắt đầu từ bao giờ thì nhạc sĩ Trần Quang Hải bắt đầu trình diễn chung với ca sĩ Bạch Yến ?

TQH: Từ khi chúng tôi thành hôn với nhau tại Paris, lúc đầu Bạch Yến chưa quen với nhạc dân tộc và đang cón trình diễn nhạc Tây phương . Theo lời khuyên của tôi , Bạch Yến đã chấp nhận rời bỏ nhạc pop Tây phương để quay trở về nhạc dân ca Việt Nam . Việc này rất khó đối với một danh ca nổi tiếng từ nhiều năm tại Việt Nam và ở hải ngoại như Bạch Yến . Cả một năm đầu , Bạch Yến không nghe nhạc pop tây phương mà chỉ nghe các bài dân ca ba miền, tự học cách ngân nga luyến láy trong nhạc truyền thống Việt Nam . Sau khi thấm nhuần chất liệu dân ca, Bạch Yến thử hát cho tôi nghe . Chỗ nào còn cứng , chưa được nhuyễn thì tôi sửa lại cho hoàn hảo . Nhờ đầu óc cầu tiến và lại có căn bản âm nhạc , cũng như long muốn cùng chồng sánh vai chung với nhau để cùng đi phổ biến nhạc dân tộc, Bạch Yến bắt đầu đi hát chung với tôi từ năm 1979 . Tính cho tới ngày hôm nay chúng tôi đã diễn chung khoảng 2.000 buổi tại 50 quốc gia và đã cùng thực hiện nhiều dĩa 33 vòng và CD về nhạc cổ truyền Việt Nam . Chúng tôi là nghệ sĩ Việt Nam duy nhứt đã được giải thưởng của Hàn Lâm Viện Charles Cro s (Grand Prize of the Record Academy Charles Cros) vào năm 1983 cho dĩa hát “Việt Nam / Trần Quang Hải & Bạch Yến” do hang Studio SM sản xuất tại Paris. Sau hơn 25 năm cùng đi diễn chung, chúng tôi đã mang lại cho cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, cũng như cho khan giả Âu Châu, Mỹ châu, Á châu, Phi Châu, và Úc châu những hình ảnh đẹp của nhạc dân tộc để giúp họ hiểu một phần nào gia tài âm nhạc cổ truyền Việt Nam

ĐT: Thưa anh, ai cũng biết giáo sư nhạc sĩ Trần văn Khê là thân phụ của anh, và quái kiệt Trần văn Trạch là chú của anh. Xin anh cho biết thêm về những hoạt động của gia đình nhạc sĩ đã ảnh hưởng đến tài nghệ đặc biệt của mỗi người như thế nào.

TQH: Âm nhạc dân tộc Việt Nam đối với tôi không có gì xa lạ vì tôi là nhạc sĩ đời thứ năm dòng họ Trần. Điều đó cũng là một hiếm hoi của xứ Việt Nam.

Ông sơ tôi là Trần Quang Thọ (1830-1890) là nhạc sĩ cung đình Huế, làm tới chức án sát, có tháp tùng đi với cụ Phan Thanh Giản sang Pháp trong phái đoàn Việt Nam để thương thuyết với Pháp về ba tỉnh miền Nam nhưng thất bại, phải treo ấn từ quan, vào trong Nam.

Ông cố tôi là Trần Quang Diệm (1853-1925) là một nhạc sĩ đàn tỳ bà rất nổi tiếng ở trong Nam thời đó, có chế ra cách ghi chép nhạc nhưng tài liệu mất hết vì chiến tranh.

Ông nội tôi là Trần Quang Triều (1897-1931), biệt hiệu là Bảy Triều, giỏi về đàn kìm, chế ra dây Tố Lan để đàn các bài oán rất được các nhạc sĩ trong cải lương và cổ nhạc miền Nam biết tới.

Ba tôi là Trần Văn Khê (1921) là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ nhạc học tại trường đại học Sorbonne ở Paris vào năm 1958, và chú tôi là Trần Văn Trạch (1924-1994), được mệnh danh là Quái kiệt. Hai người có hai chỗ đứng khác biệt trong vườn nhạc Việt Nam.

Tôi là nhạc sĩ đời thứ năm được may mắn kết hợp nhiều truyền thống âm nhạc mà tôi nghĩ ít có ai có diễm phúc đó. Tôi học nhạc Tây phương tại trường quốc gia âm nhạc Saigon về vĩ cầm. Tôi đã biết đàn piano, guitar, mandoline, banjo, sáo tây khi còn ở Saigon. Khi sang Pháp, tôi học nhạc học (musicology), dân tộc nhạc học (ethnomusicology), nhạc điện thanh (electro-acoustical music) với ông Pierre Schaeffer, sáng lập viên của nhạc điện thanh Pháp, nhạc Ba Tư, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bổn, Đại Hàn, Cao Miên, Nam Dương, Việt Nam tại trường Trung tâm nghiên cứu nhạc Đông Phương (Center of Studies for Oriental Music) tại Paris trong vòng 8 năm vừa lý thuyết và thực tập. Tôi lại là một trong những thành viên của phong trào tái thiết nhạc dân gian ở Pháp (Folk Music), tham gia vào việc tổ chức đại nhạc hội dân nhạc (Folk Music Festivals) ở Âu châu từ năm 1970 tới 1975. Tôi lại có dịp thể nghiệm sáng tác nhạc điện thanh, nhạc Jazz (free Jazz), nhạc tùy hứng (improvized music), nhạc tùy hứng tập thể (improvized collective music), nhạc thế giới (world music). Sự tham gia trực tiếp trong các đợt sóng âm nhạc đương đại thế giới giúp cho tôi có một cái nhìn khác biệt so với đại đa số nhạc sĩ, soạn nhạc gia của Việt Nam. Lĩnh vực nghiên cứu của tôi không bị giới hạn trong nhạc Việt hay Á châu mà bành trướng khắp thế giới. Thế giới thuộc nhiều địa hạt biết tới tôi. Không những tôi hành nghề nhạc sĩ mà còn là một người nghiên cứu dân tộc nhạc học. Tôi làm việc cho Trung Tâm Quốc gia nghiên cứu khoa học (National Center for Scientific Research) của Pháp, đậu tiến sĩ âm nhạc vào năm 1973, chuyên về nghiên cứu nhạc Á châu, và các kỹ thuật giọng hát trên thế giới, đặc biệt là hát đồng song thanh (chant diphonique/ overtone singing). Sau hơn 35 năm nghiên cứu về kỹ thuật hát này (từ 1969), tôi trở thành chuyên gia duy nhứt trên thế giới về hát đồng song thanh. Tôi có trên 8.000 học trò theo học với tôi về hát đồng song thanh tại 65 quốc gia trên thế giới. Tôi có sáng tác một số ca khúc tân nhạc (khoảng 400 bài) và hàng trăm bài nhạc cho đàn tranh, đàn bầu, đàn môi, muỗng, vv. được cầu chứng tại SACEM (Societe des auteurs, compositeurs et editeurs de la musique / Hội tác quyền Pháp) mà tôi là hội viên từ năm 1980.Tôi không được may mắn hấp thụ giáo dục âm nhạc cổ truyền lúc nhỏ vì Ba tôi sang Pháp năm 1949 lúc tôi mới có 5 tuổi, phải đợi tới khi tôi gặp lại Ba tôi bên Pháp mới có dịp tiếp xúc nhạc cổ truyền. Sau 10 năm theo học hỏi với Ba tôi, tôi hấp thụ nhạc Việt qua đàn tranh, và lý thuyết nhạc cổ truyền. Nhờ đó tôi có dịp phổ biến nhạc Việt khắp nơi ở hải ngoại cho tới ngày hôm nay.

ĐT: Cám ơn nhạc sĩ đã cho thoinayonline.com một giờ hàn huyên thân mật. ĐT mến chúc nhạc sĩ Trần Quang Hải và ca sĩ Bạch Yến tiếp tục gặt hái nhiều thành quả và cuộc sống đầy nụ cười thanh thản vui tươi.

  Xin bấm vào đây để nghe âm thanh:

 

  • Tiếng đàn tranh
  • Tiếng đàn muỗng
  • Tiếng đồng song thanh
  • Tiếng đàn môi
  • Tân Hôn Dạ Khúc

  • (1) tiếng khoa học chuyên môn về sóng tần số.

     

    http://thoinayonline.com/TN4/TQHBY.html 

    •• Âm nhạc cổ truyền

    •• Nhạc mới

    •• Tiểu sử nhạc sĩ

    •••• Nghệ sĩ từ trần

    •• Nghiên cứu gia VN

    •• Nhạc thiểu số

    •• Tiểu sử ca sĩ

    •• CA TRU

    •• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

    •• Nhạc Hàn Quốc

    •• Nhạc Nhựt Bổn

    •• Nhạc Trung quốc

    •• Nhạc Đông Nam Á

    •• Nhạc Mông Cổ

    •• Nhạc sắc tộc

    •• Nhạc Tuva

    •• song thanh tác giả khác

    •• song thanh TQH

    •• Giọng trị bịnh

    •••• Chakra - Yoga

    •• Ca sĩ Khoomei

    •• Nghiên cứu gia Khoomei

    •• Âm thanh học

    •• Ngôn ngữ khác

    •• Đàn Mội Hmông

    •• Tiêm ban sach và nhac cu

    •• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

    •• Trang nhà dân tôc nhac hoc

    •• Phân mêm : Phân tach bôi âm

    •• Muông

    •• Tran Quang Hai

    •• Nhac si Viêt Nam

    •• Hat dông song thanh

    •• Bach Yên

    •• VIDEO/CD trên WEB

    •• Nhạc Việt cổ truyền

    •• Đàn Môi

    •• Tiểu sử nhạc sĩ

    •• Tiểu sử

    •• Phỏng vấn báo, radio

    •• Bài viết

    Visitors: 22050208