Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Giáo sư Trần Văn Chi : Cải lương về Miền Trung

  Cải lương xuất hiện ở đất Nam Kỳ Lục Tỉnh. Thuở ấy Nam Kỳ là "đất thuộc địa", Bắc Kỳ là "xứ bảo hộ", trong khi Trung Kỳ là đất vẫn còn trực thuộc Nhà Nguyễn. Do đó ở Bắc và Nam Kỳ có nhà hát Tây, có sân khấu kịch và nhạc Tây, trước hết để phục vụ cho "quan Tây" sau đó là cho dân ta theo Tây, họ là công chức, công nhân và những người "làm ăn" với Tâỵ Ở Trung Kỳ lúc ấy vẫn còn tầng lớp quan lại, nho sĩ sống quanh triều đình và chỉ có xem nhã nhạc là nghệ thuật chính thống, thú vui cao thượng, nhưng chỉ phục vụ cho triều đình mà thôi.


 Biên khảo cải lương:
 
Cải lương về Miền Trung

 Giáo sư Trần Văn Chi





Người dân Trung Kỳ không có dịp đến với nghệ thuật sân khấu nào cả! Cải lương "bùng nổ" ở Nam Kỳ và 3 năm sau "khăn gói gió đưa" ra Hà Nội mà không dừng chân trên đất Thần Kinh. Hiện tượng nầy chưa có ai giải thích nghiêm túc, khoa học, mặc dù ai cũng thừa nhận là cổ nhạc Miền Nam bắt nguồn từ nhã nhạc cung đình Huế, và người Nam Kỳ truy nguyên là dân theo chân Chúa Nguyễn xuôi Nam chinh chiến và khai phá lập khu dinh điền. Những con người phiêu bạc ấy đem nhã nhạc "hòa trộn" với sông nước, đất đai bao la, ruộng đất, rừng hoang, thú dữ... mà tạo ra những điệu ai, ca Nam ca Bắc và Dạ Cổ Hoài Lang. Phải chăng hệ thống phong kiến triều Nguyễn muốn bảo vệ một chút gì còn lại trước sức bành trướng áp đảo, hào nhoáng của Tây.

Theo sách "Sân Khấu Và Tôi" do nhà xuất bản Sân Khấu Hà Nội phát hành năm 1995 thì người dân Miền Trung "ghiền" cải lương như "ghiền ma túy". Hồi ấy người dân Trung Kỳ ghiền cải lương phải vào Sài Gòn, về Lục Tỉnh.

Có những nghệ sĩ  Miền Trung vào Nam mới thành danh như Việt Hùng, Thanh Tuấn, và ông Trương Gia Kỳ Sanh vào Nam lập gánh... Nhưng hệ thống phong kiến không kềm chế nổi người dân ghiền cải lương nên độ thập niên 1930 bên Bến Thương Bạc, một ông Tuần Phủ đã thành lập một rạp hát và một đoàn hát cải lương, mà sau nầy cả gia đình đều theo nghiệp cải lương đến 1975. Đó là rạp Đồng Xuân Lâu và đoàn hát Đồng Hỉ Ban, sau đoàn hát đổi lại là đoàn Đồng Xuân vẫn thuộc 3 thế hệ của ông Tuần Phủ đất Thần Kinh.

Rạp ông Tuần Phủ không quá 500 chỗ và chuyên phục vụ cải lương, nói như ngày nay là đoàn hát ông Tuần Phủ đóng thường trực tại rạp Đồng Xuân Lâu. Ta thử xem lại một tờ quảng cáo của đoàn: "Tại rạp Đồng Xuân Lâu, đoàn hát Đồng Hỉ Ban-Huế, một đoàn hát lớn nhứt Miền Trung nước Việt, nơi tập trung những tinh hoa son trẻ nhứt của sân khấu hát bội cải cách. Hôm nay đúng 20 giờ 40 mở màn... Theo sau Huế là Quảng Nam, nơi có cuộc sống "đô hội" náo nhiệt hơn Huế. Có lớp thị dân nên cải lương phát triển mạnh hơn với: Đoàn Lí Hương Thu, đoàn Túy Nguyệt, đoàn Bá Toàn nhưng không có rạp đóng đô thường trực, nên họ phải kéo nhau đến Đà Nẵng, lưu diễn đây đó với bầu đoàn gần 100 người cho mỗi đoàn, bao gồm gia đình vợ con. Rồi đến Nha Trang là thành phố biển, xa Huế và gần Miền Nam nên cải lương phát triển khá mạnh với các đoàn Phước Hòa, đoàn Kim Dung, đoàn Quốc Hương, đặc biệt là đoàn Phú Bình Trung mà ông bầu là người Chàm tên Chế Hồ Lưu.

Như vậy cải lương về Miền Trung phát triển đều khắp và xuống tận lớp khán giả bình dân sau Hà Nội một thập niên. Ở Miền Trung từ ông quan, trí thức sau nầy, đến dân giả đều ghiền cải lương. Đối với họ cải lương như là cái gì không thế thiếu vắng, cải lương là "chính họ"; như một đứa con đi xa mới về. Cải lương do vậy gọi là về Miền Trung, trong khi ở Hà Nội người ta gọi là cải lương ra Hà Nội. Nhưng nhìn chung cải lương đối với Miền Trung đặc biệt là Huế là một cái gì xem "bé nhỏ", không ồn ào nhưng sâu sắc đậm đà như trái ớt hiểm, tô bún bò Huế, dòng sông Hương... Nhưng cải lương có chất quyến rũ ghê gớm đối với đồng bào Miền Trung đến mức độ "ghiền" như ghiền ma túy là như vậy...

Tóm lại cải lương đối với Miền Nam thì nó là cuộc sống, là "văn hóa miệt vườn"; đối với Miền Trung thì nó là một "chất ma túy", và đối với Miền Bắc và Hà Nội thì được đón nhận như một cái "mốt", như cô gái răng trắng, như cô Loan trong Đoạn Tuyệt với chàng Dũng và Độ của Nhất Linh thời thập niên 1930. Ngày nay, cải lương là một di sản chung của dân tộc, vả lại nó có sức thu hút mãnh liệt nên dù bạn là người không biết gì về âm nhạc và nghệ thuật cũng "mê" nó.
 

Back to Top

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 22050052