Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Bài người khác

Khi trái đất biến thành “xóm địa cầu”...

 

Ngay từ tiêu đề Hội thảo đã thấy hai vấn đề đáng xếp vào hạng cấp bách hiện nay - âm nhạc cổ truyền và toàn cầu hóa, trong đó vế thứ nhất gắn liền với quá khứ, vế thứ hai liên quan tới tương lai. Phải làm gì hôm nay để ngày mai không bị chặt đứt cội nguồn với hôm qua, để đưa được những giá trị làm nên bản sắc dân tộc từ quá khứ đến với không gian ngày càng rộng mở hơn trong tương lai - đó là mối quan tâm chung của các nhà nghiên cứu âm nhạc từ các nước Asian và các nước Đông Bắc á trong cuộc họp mặt vào những ngày đầu thu tại Hà Nội.
Làng thế giới, xóm địa cầu, ngôi nhà chung trái đất... kiểu ghép từ có vẻ nghịch lý này đã không còn lạ tai nữa chứng tỏ rằng hành tinh rộng lớn đang thu nhỏ dần theo tầm nhìn của chúng ta. Khoa học kỹ thuật siêu hiện đại đã đưa chúng ta đến với kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên của sự sụp đổ các đường biên giới”[1]. Công nghệ thông tin xóa nhòa biên giới giữa các quốc gia, giữa các châu lục. Tính nhất thể đang dần dần thay thế sự cách biệt giữa thành thị với nông thôn, giữa các địa phương khác nhau, giữa các dân tộc khác nhau. Sự công phá lan rộng trong không gian địa lý trên trái đất và ngoài trái đất, nó diễn ra cả trong khái niệm về thời gian, về cuộc sống con người - một vũ trụ còn chứa đầy ẩn số. Công nghệ biến đổi gien mở ra cho cuộc sống hữu hạn của con người khái niệm mới về sự sinh tồn vĩnh hằng. Khác biệt giới tính trong xã hội công nghiệp hóa ngày càng mờ nhạt, thậm chí chuyển đổi giới tính không phải chuyện hãn hữu trong y học ngày nay. Còn bao ranh giới khác cũng đang lung lay: ranh giới giữa vǎn minh và vǎn hóa, giữa hữu hình và vô hình, giữa hàng hóa và nghệ thuật, giữa những khác biệt về tư tưởng triết học, tâm lý đạo đức, vǎn hóa nghệ thuật của phương Đông và phương Tây. Hệ thống giá trị truyền thống trong nhiều lĩnh vực đang bị phá hủy trong khi chưa định hình được một hệ thống mới phù hợp hơn.

Kỷ nguyên của những biến đổi nhanh chóng và phức tạp này buộc chúng ta phải có cái nhìn linh hoạt và đa diện. Xem xét tính hai mặt của toàn cầu hóa qua nhiều hiện tượng cụ thể cùng những dự báo mang tính chiến lược cho tương lai, các nhà nghiên cứu âm nhạc phương Đông không muốn tự bó hẹp mình trong bất kỳ định kiến cực đoan nào. Không đặt toàn cầu hóa vào vị trí đối nghịch với âm nhạc truyền thống dân tộc, vào mối quan hệ một mất một còn để rồi buộc tội và dị ứng với toàn cầu hóa, song cũng không mượn danh nghĩa hội nhập quốc tế để hoan hỷ chấp nhận một thực đơn toàn cầu chỉ còn lại độc nhất món lẩu thập cẩm, một món lẩu dù ngon dù bổ đến mấy cũng rất ngán nếu cứ tái diễn ngày này qua ngày khác ở khắp mọi nơi. Nếu coi toàn cầu hóa chỉ là sự đồng nhất những khác biệt để làm nghèo đi giá trị di sản âm nhạc thế giới thì thật oan uổng và hoài phí cho bao thành quả tiến bộ khoa học. Chỉ khi được nhìn nhận là phương tiện biểu hiện và truyền bá chứ không bao hàm ý nghĩa định hướng chuẩn mực cho nội dung nghệ thuật, thì toàn cầu hóa như đôi cách thần kỳ dễ dàng đưa mọi nền âm nhạc dân tộc vượt khỏi địa phận nhỏ bé của mình để góp một tiếng nói riêng trên diễn đàn thế giới và mở rộng cơ hội giao lưu với các truyền thống âm nhạc khác.

Mối quan hệ qua lại giữa các dân tộc, giữa các nền vǎn hóa thực ra đã tồn tại từ hàng nghìn nǎm trước. Có nền vǎn hóa nào, có nền âm nhạc nào phát triển lại chẳng thông qua tác động giao thoa, lại không tiếp biến tinh hoa của những truyền thống khác để làm giàu thêm cho mình. Không ít bản tham luận nhấn mạnh một trong những điều kiện để nhạc cổ trường tồn là sự thích ứng linh hoạt với thời đại, sự cởi mở sẵn sàng tiếp nhận và dung hợp những ý tưởng mới từ bên ngoài, miễn là chúng phù hợp với tâm lý con người, thẩm mỹ dân tộc và môi trường vǎn hóa xã hội. Vậy, giao lưu vǎn hóa một khi đã thành quy luật muôn đời rồi thì đâu phải điều đáng lo ngại, khác thường chǎng là ở chỗ sự giao lưu chưa bao giờ có được cơ hội to lớn ngoài sức tưởng tượng như ngày nay. Và trước cái bối cảnh hội ngộ tầm cỡ chưa từng biết đến trong lịch sử loài người, hơn bao giờ hết càng thấy rõ hơn giá trị của đặc sản vǎn hóa địa phương, của tính cách âm nhạc độc đáo đặc trưng cho mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Chính từ những cái riêng ấy mới có được sự phồn thịnh đa dạng trong tài sản chung của nhân loại, và để có được bản sắc biệt lập thì chẳng gì đảm bảo bằng khởi nguồn từ cái tinh thần cốt cách của âm nhạc cổ truyền dân tộc.

Dựa trên những hoàn cảnh đất nước khác nhau, các tham luận đều tập trung vào những vấn đề mấu chốt: khẳng định giá trị của nhạc cổ truyền và phương cách bảo tồn giá trị ấy trong thời đại toàn cầu hóa. Thực trạng chung đối với nhạc cổ truyền ở nhiều nước châu á là sự mất cân đối giữa hai phương thức: bảo tồn - phát huy và kế thừa - phát triển. Đáp ứng tính ứng dụng của thời đại, chúng ta mê mải kế thừa mà quên duy trì cái gốc. Sức sống của dàn nhạc dân tộc kiểu mới hơn nửa thế kỷ qua và thành công của những sáng tác đương đại dựa trên chất liệu dân ca đã chứng tỏ rằng biến đổi truyền thống là một dòng chảy tất yếu[2]. Biến đổi có nhiều cách khác nhau đáp ứng với nhu cầu thời đại khác nhau. Song nhánh phát triển nào cũng đến hồi cạn kiệt nếu cội nguồn không được gìn giữ tốt. Cái gốc bị mai một nhiều khi được tân trang lại bằng những hình thức giả cổ, xuất phát từ nhiều nguyên cớ: vô tình lẫn lộn do thiếu hiểu biết hoặc bị thúc bách bởi mục tiêu thương mại của thời buổi kinh tế thị trường. Từ đây dẫn đến những biểu hiện cực đoan đối với hai phương thức trên, mượn nhạc truyền thống mới thay thế nhạc cổ, hoặc ngược lại nhân danh cái gốc cương quyết phủ nhận cái phát triển. Thế đối đầu nhǎm nhe thôn tính lẫn nhau giữa hai phương thức lẽ ra phải song song tồn tại này dễ gây tổn thất cho chính đối tượng được quan tâm.

Bảo tồn không những được khẳng định về vai trò và tính cấp thiết, mà còn được nhấn mạnh ở cách thức thực hành. Bảo tồn không đơn giản là xử lý nhạc cổ như những hiện vật của quá khứ chỉ để trưng bày trong tủ kính, coi nó chẳng khác một di sản chết, một thứ xác ướp trong bảo tàng. Hơn thế, nhạc cổ truyền - một giá trị vǎn hóa phi vật thể - nhất thiết phải được hưởng chế độ bảo tồn “tươi sống”.

Thế nào là bảo tồn sống? Câu trả lời có thể lượm nhặt được từ nhiều tham luận. Trước tiên, truyền miệng thuộc lòng và ứng tác sinh động theo truyền thống phương Đông là những yếu tố cần được đảm bảo liên tục, nếu không thì nhạc cổ sớm muộn cũng bị “vǎn hóa viết” theo chuẩn mực phương Tây làm đông cứng và đóng hộp thành sản phẩm của thời đại công nghiệp hóa. Đồng thời, nhất thiết phải khôi phục lại mối quan hệ truyền thống giữa người diễn với người diễn, giữa người diễn và người nghe, cụ thể là kỹ nǎng nghe nhau trong hòa tấu ngẫu hứng và sự tham gia trực tiếp của người nghe vào quá trình diễn tấu. Đối với nghệ nhân nhạc cổ, sao chép của người là một sự lǎng mạ, lặp lại chính mình cũng là non tay, chất lượng và thời gian diễn tấu của họ liên quan mật thiết tới phản ứng của người nghe, như vậy trong diễn tấu không thể thiếu dấu ấn cá nhân và dấu ấn thời gian, khái quát hơn sẽ hình thành dấu ấn địa phương và dấu ấn thời đại.

Bảo tồn nhạc cổ không thể chỉ trông chờ vào thư viện và bảo tàng, cho dù việc lưu trữ trong thời đại tin học có nhiều hứa hẹn chưa từng thấy. ở thời đại nào đi nữa, nhạc cổ truyền vẫn cần được sống trong nhân gian bằng cuộc đời của loại hình vǎn hóa truyền miệng và nó chỉ thật sự hồi sinh khi được trả về không gian đích thực của nó, cho chính chủ nhân của nó - những tác giả vô danh. Bảo tồn sống đòi hỏi sự phục hồi trong điều kiện có thể môi trường diễn xướng nguyên gốc. Tuy nhiên, khi kinh tế xã hội quá đổi thay thì không phải mọi hình thái diễn xướng đều tái hiện được theo đúng ý nghĩa nguyên thủy. Lối thoát thường được tìm thấy trong sự chuyển đổi chức nǎng sử dụng. Những loại hình gắn liền với lao động chân tay xưa kia có thể vẫn diễn ra trong môi trường hoạt động của chúng nhưng được sử dụng vào mục đích khác. Không ít thể loại nhạc cổ có mặt trên diễn đàn Hội thảo như những minh họa cụ thể cho tính thích ứng nǎng động, cho khả nǎng “vượt rào” khỏi thời đại cũ để tồn tại trong xã hội đương đại. Từ Hò sông Mã vẫn còn cơ hội phục hồi trên con đò dọc không mang ý nghĩa phương tiện giao thông như xưa, mà cần chuyển đổi thành một hoạt động vǎn hóa giữa đất trời sông nước đáng tự hào cho dân bản địa và đáng thưởng thức cho khách thǎm quan, đến dàn nhạc gõ tế thần trong nghi lễ tín ngưỡng Thành hoàng ở Thanh Hóa đang sống lại trong sinh hoạt đời thường mang tính hội hè giải trí[3]. Từ nghệ thuật trống Shigu bén rễ từ múa sư tử Trung Hoa xa xưa luôn hiện hữu như một truyền thống đa sắc tộc tại Malaysia[4], đến truyền thống nhạc - múa Zapin gồm Zapin cổ với những nguyên tắc nghiêm ngặt của âm nhạc Hồi giáo ả rập và Zapin mới mang đậm tính thời đại và bản sắc Malaysia[5]. Từ hình ảnh thanh niên Lào ngày nay múa ngậm chum - nghệ thuật Phón kháp hảy lâu đời của người Phunọi mới hồi sinh sau nửa thế kỷ bị lãng quên[6], đến trích đoạn bộ phim Thái Lan vừa gây tiếng vang bất ngờ với tiết mục cổ Homerong trên cây đàn cổ truyền ranat[7].

Mắt xích cuối cùng mang tính quyết định cho số phận vốn cổ thuộc về thế hệ trẻ, những người kết nối hiện tại với quá khứ và duy trì sự sống cho nhạc cổ truyền trong tương lai. Giáo dục và đào tạo một truyền thống “cổ lỗ sỹ” trong thời hiện đại hóa là việc làm chẳng dễ dàng chút nào. Ngay tại Nhật Bản - quốc gia có nhiều thành công trong bảo tồn truyền thống, việc dạy nhạc cổ cho giới trẻ giờ đây lại giống như truyền bá thứ gì đó hoàn toàn lạ lẫm, có lẽ khó khǎn không kém việc du nhập âm nhạc phương Tây vào thời Minh Trị 140 nǎm trước[8]. Thế hệ trẻ á Đông ngày một rời xa truyền thống tổ tiên, như thể họ thuộc về một nền vǎn hóa khác - vǎn hóa fast food, vǎn hóa pop - rock… tóm lại là vǎn hóa phương Tây. Trước thực trạng đầy thách thức này, giáo dục đào tạo vừa là vấn đề cấp bách vừa là biện pháp dài lâu, nó được xem xét trên nhiều phương diện khác nhau, từ tầm vĩ mô đến kinh nghiệm thực hành cụ thể. Bảo tồn trong bối cảnh toàn cầu hóa càng đòi hỏi hơn bao giờ hết tính quy mô và sự đổi mới phương pháp giảng dạy thoát khỏi ảnh hưởng phương Tây của các “vườn ươm âm nhạc”
[9], nơi nuôi dưỡng những tài nǎng kế tiếp thế hệ nghệ nhân già cứ mỏng dần theo thời gian. Chúng ta được biết đến những thử nghiệm phương pháp giảng dạy mới đặt trên cơ sở truyền thống phương Đông, áp dụng kịp thời kỹ thuật âm thanh và công nghệ tin học hiện đại ở Singapore[10]. Chúng ta có dịp tham khảo so sánh với chương trình giáo dục đào tạo nhạc truyền thống cho các đối tượng không chuyên và chuyên nghiệp qua các cấp trung học - đại học - cao học của Myanmar[11]. Chúng ta còn được cập nhật thông tin về sự phổ cập trường nghệ thuật truyền thống do nghệ nhân “chính hiệu” tổ chức ở các làng xã Philippines[12], những hoạt động đầy hiệu quả trong các lĩnh vực giảng dạy, truyền bá và nghiên cứu của Hiệp hội âm nhạc truyền thống Luang Pradit Phairoh - một tổ chức vǎn hóa phi chính phủ và phi lợi nhuận ở Thái Lan[13], cả những hiện tượng đáng ghi nhận như trường hợp tiếp biến và truyền bá nhạc cổ truyền Okinawa dẫn đến thành công bất ngờ trước công chúng trẻ của nhóm nhạc Ryukyu Underground[14]

Từ diễn đàn này còn thấy được hiệu quả của phương pháp tiếp cận vấn đề thông qua điều tra xã hội học. Hiện tượng toàn cầu hóa (thực chất là phương Tây hóa) và dân số hóa nền vǎn hóa âm nhạc tại Nhật, cũng như tác động của ngành công nghiệp âm nhạc trong giáo dục âm nhạc được lý giải qua hàng loạt dữ liệu so sánh: sự vượt trội số lượng đàn piano bán ở Nhật so với Mỹ, tỷ lệ giữa số đàn piano được bán với số trẻ em sinh ra mỗi nǎm, các con số liên quan đến sự tǎng trưởng vô song của công nghiệp sản xuất nhạc cụ Nhật Bản và sự mọc ra nhanh chóng các “chân rết” của công ty YAMAHA trong truyền dạy âm nhạc phương Tây tại khu vực ASIAN[15]. Việc khảo sát và phân tích những dữ liệu số chẳng những giải mã các khía cạnh thuộc mặt thiết yếu của nền vǎn hóa âm nhạc mà từ đó còn phát hiện ra những khía cạnh thuộc mặt ẩn dưới gây nhiều bất lợi trong bảo tồn và truyền bá nhạc cổ dân tộc cho thế hệ trẻ.

Đề cao tính ứng dụng và xã hội hóa trong nghiên cứu nhạc cổ truyền, có đại biểu không khỏi bǎn khoǎn: giới nghiên cứu lý luận còn nặng về lý thuyết suông trong khi giới thực hành biểu diễn lại quen nghe ngóng thị trường, lấy hiệu quả thương mại làm kim chỉ nam hoạt động. Cũng như thế, các viện sĩ, các nhà nghiên cứu âm nhạc học luôn đặt ra sự cách biệt giữa những gì họ làm với những gì thuộc sản phẩm của ngành công nghiệp âm nhạc[16]. Còn việc truyền bá nhạc cổ qua mạng nữa, lựa chọn gì đây, cấm sao chép bản quyền hay cho phép khai thác miễn phí? Vì lợi nhuận của tổ chức độc quyền sở hữu hay vì hiệu quả quảng bá cho nhạc cổ? Một mặt, bỏ qua quyền thu tiền một cách chính đáng thì thiệt thòi cho người sở hữu, mặt khác, những bǎng đĩa nhạc cổ càng bớt cơ hội phổ cập thì thiệt thòi còn đáng kể hơn. Việc cung cấp thường xuyên một số lượng mẫu vật giá trị về nhạc cổ trên website của những tổ chức chuyên nghiệp như Viện Âm nhạc Việt Nam chắc chắn sẽ thúc đẩy được doanh số bán CD nhạc cổ - lợi ích này thậm chí còn lớn hơn những tính toán thương mại với ám ảnh về sự thiệt thòi không được thanh toán. Câu hỏi trực tiếp đặt ra cho Viện Âm nhạc: “Các bạn nghĩ sao về quan điểm này?”[17].

Hội thảo về toàn cầu hóa cũng thể hiện tính toàn cầu, tính khu vực ở chỗ các nhà dân tộc nhạc học sẵn lòng vượt biên giới quốc gia không những trong phương pháp so sánh mở rộng mà cả trong sự chọn lựa đề tài tham luận. Nhà nghiên cứu Nhật Bản thâm nhập vào cuộc sống âm thanh của một làng hẻo lánh Trung Quốc[18], một tham luận của Singapore đi sâu vào lịch sử đàn dây gẩy cổ truyền của Malay trong mối liên hệ với các nhạc cụ họ hàng ở châu á và Trung Âu[19], kết quả điền dã ở một tỉnh Trung Quốc có mặt trong phần trình bày của đại biểu từ Philippines[20]… Sự giao diện tương tác giữa các quốc gia trong việc bảo tồn nghệ thuật truyền thống rõ ràng rất cần được duy trì đều đặn. Các đại biểu đã nghĩ đến những cuộc họp mặt thường kỳ sau Hội thảo này, bởi toàn cầu hóa vẫn tiếp diễn thì tiêu đề của Hội thảo còn lâu mới “hết đát”. Biết đâu đây mới là khởi đầu cho một hoạt động mang tính quốc tế có định kỳ - như câu hỏi gợi ý trong bản tổng kết - “hai nǎm một lần chǎng?”[21].

Sau hai ngày luận bàn bằng lý lẽ, đêm liên hoan diễn ra chủ yếu bằng một thứ ngôn từ đặc biệt khiến các vị đại biểu thuộc các dân tộc khác nhau càng thêm gần nhau hơn, đồng cảm với nhau hơn, đó là âm nhạc dân gian cổ truyền. Trên diễn đàn đạo mạo và trầm tĩnh là thế, các nhà nghiên cứu trước lúc chia tay bỗng trở nên hết sức hồn nhiên và nồng nhiệt. Họ phấn khích đua nhau hát hết bài dân ca này đến bài khác (có người còn tị sao chẳng đến lượt tôi?), họ kéo nhau múa theo giai điệu dân gian của các dân tộc khác nhau, họ còn nhảy lên bục diễn để chơi các nhạc cụ cổ truyền. Nhà nghiên cứu Thái lan mải mê kéo đàn từ chiếc “mu rùa” trosu của người Thái đến cây nhị của người Việt, giáo sư Trung Hoa vượt qua chút bẽn lẽn ban đầu để hào hứng song ca cùng cô nhân viên trẻ Viện Âm nhạc Việt Nam, viện trưởng Viện Âm nhạc lắc lư vỗ trống, viện phó tình tứ “ối a bướm lượn”... Bao nhiêu hoa trên bàn tiệc bị những người hâm mộ lôi ra trao tặng cho những tài nǎng bộc lộ bất ngờ. Lúc này âm nhạc trở thành ngôn ngữ chung cho các dân tộc có tiếng nói khác nhau, một ngôn ngữ không cần đến phiên dịch bởi nó có thể “đi thẳng từ trái tim đến trái tim”.

Nguyễn Thị Minh Châu

18-9-2004

--------------------------------------------------------------------------------

[1] GS - TS Hyesook Yang (Hàn Quốc).
[2] Theo GS - TS Zhang Boyu (Trung Quốc).
[3] Theo nhóm nghiên cứu của Viện Âm nhạc Việt Nam: Hồ Hồng Dung, Hoàng Anh Thái, Tạ Quang Động.
[4] Theo GS - TS Tan Sooi Beng (Malaysia).
[5] Theo GS Mohd Anis Md Nor (Malaysia).
[6] Theo nhà nghiên cứu Khamphanh Sithilath (Lào).
[7] Theo nhà nghiên cứu Anant Narkong (Thái Lan).
[8] GS Tanaka Kenji (Nhật Bản).
[9] Nhà nghiên cứu Malinee Sagarik (Thái Lan).
[10] Theo TS Joe Peter (Singapore).
[11] Theo nhà nghiên cứu U Zaw Moe Kyaw (Myanmar).
[12] Theo GS Ramon Pagayon Santos (Philippines).
[13] Theo nhà nghiên cứu Malinee Sagarik (Thái Lan).
[14] Theo PGS - TS Simeda Takasi (Nhật Bản).
[15] Theo GS Tanaka Kenji (Nhật Bản).
[16] Theo TS Joe Peter (Singapore).
[17] PGS - TS Simeda Takasi (Nhật Bản).
[18] Theo PGS - TS Iguchi Junko (Nhật Bản).
[19] PGS Hilarian Francis (Singapore).
[20] GS Ramon Pagayon Santos (Philippines).
[21] GS - TSKH Tô Ngọc Thanh.

 

Khi trái đất biến thành “xóm địa cầu”...
(Về nội dung Hội thảo khoa học quốc tế)
Âm nhạc cổ truyền dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa
do Viện Âm nhạc - Bộ VHTT tổ chức ngày 8-9/8/2000 tại Hà Nội.)

trích trang nhà Viện Âm Nhạc Hà Nội

http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim/vietnamese/thongtin/bai_Tongthuat.htm 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 20889121