Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Bài người khác

Để được công nhận là một di sản phi vật thể của nhân loại



 

Từ nǎm 1972, Công ước Quốc tế Bảo vệ Di sản Thế giới được thông qua nhưng chỉ là công nhận, tuyên dương những di sản vật thể như cung đình, đền đài, phong cảnh thiên nhiên v.v... Phải trải qua một thời gian, người ta mới bước qua việc công nhận những di sản phi vật thể. Tôi nhớ lại một lần, khoảng nǎm 1982-1983, ông cựu Tổng Giám đốc của UNESCO, Amata M’Bow, đến xem cung đình, điện đài Huế, nơi đã được tuyên dương là di sản vật thể của nhân loại. Buổi tối chúng tôi được thưởng thức một chương trình nhã nhạc, đại nhạc, múa như “Lân mẫu xuất lân nhi”. Ban tổ chức đã sắp xếp cho tôi ngồi gần ông để nói chuyện, giải thích thêm cho ông ý nghĩa của các tiết mục. Trong lúc nói chuyện, tôi đã nói như sau: “Tôi cảm ơn UNESCO đã tuyên dương cung đình Huế là di sản vật thể của nhân loại. Nhưng bảo vệ cung đình chỉ là bảo vệ cái xác còn cái hồn của Huế là thi ca, là âm nhạc, là những di sản phi vật thể. Tôi ước mong thông qua ông, UNESCO sẽ bảo vệ Huế cả xác lẫn hồn!”. Ông mỉm cười trả lời tôi: “Đó là một vấn đề không đơn giản, có thể giải quyết trong một ngày, một buổi!”. Sau đó ông về hưu trí. Tôi nghĩ ý tưởng đó đã bị quên lãng nhưng thật không ngờ điều đó như đã được gieo mầm. Nǎm 2001, ông Tổng Giám đốc mới và cơ quan Bảo vệ và phát huy vǎn hóa nghĩ rằng trước khi có một công ước Quốc tế Bảo vệ di sản phi vật thể của các nước đề nghị trong một hồ sơ đầy đủ tư liệu lịch sử, nghệ thuật để được một Ban Giám khảo do UNESCO thành lập hai nǎm một lần xem xét và bỏ thǎm chấp thuận hay không. Di sản này phải ở trong tình trạng bị lãng quên, sắp tàn lụi cần được tuyên dương để có sức sống lại, và để thế giới quan tâm.

Nǎm 2001, 19 kiệt tác được thông qua; nǎm 2003, có 28 kiệt tác, trong đó có Nhã nhạc cung đình Huế. Hồ sơ xin đề cử thì nhiều mà được chọn thì ít, nǎm nay, 2005, để có 43 kiệt tác, người ta đã phải xem xét gần 70 hồ sơ.

Hiện nay, tôi được chánh phủ nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, Bộ Ngoại giao, Cục Di sản phi vật thể của Bộ Vǎn hóa và Uỷ ban người Việt nước ngoài, mời làm Cố vấn đặc biệt cho Uỷ ban thiết lập hồ sơ về Ca trù chuẩn bị cho nǎm 2007. Tôi đã có mười mấy ngày làm việc với Uỷ ban tại Hà Nội với nội dung phải làm gì, nên làm gì, trong điều kiện nào.

Điều kiện thứ nhứt được xem xét đến của bộ hồ sơ là bề dày lịch sử của bộ môn nghệ thuật giới thiệu bằng vǎn bản, cǎn cứ trên những bằng chứng, vǎn kiện sử liệu hay hiện vật. Từ tháng 05/2004, Uỷ ban đã nỗ lực, nghiêm túc làm việc. Họ đã đi điền dã khắp các miền đất nước, khám phá những nghệ nhân Ca trù còn sót lại biết đờn, biết ca rất hay. Trong Uỷ ban có người đọc được chữ Hán-Nôm thì xem những vǎn bia cũ nói về Ca trù, minh chứng cho bề dày lịch sử của bộ môn này.

Điều kiện thứ nhì để được xét đến là bề sâu nghệ thuật của bộ môn. Trong một bộ môn thì bề sâu của nghệ thuật có rất nhiều yếu tố. Chẳng hạn như Ca trù là bộ môn chúng ta đang lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận thì có “ca”, có “nhạc”, giá trị trong thi ca như thế nào, giá trị trong âm nhạc như thế nào. Thi ca phải đem so sánh với các loại thi ca Việt Nam như lục bát trong dân gian, ngụ ngôn, thất ngôn của Đường luật. Khi làm hồ sơ giới thiệu về Ca trù phải trải qua những bước rất dài, làm sao cho thấy sự gặp gỡ của thơ và nhạc như một cuộc hôn nhân rất đẹp không bị “ép duyên” mà là một cuộc gặp gỡ nhuần nhuyễn làm nên kiệt tác. Tất cả phải trình bày để tìm ra nét đặc thù của Ca trù trong nước và có thể trên cả thế giới.

Điều kiện thứ ba là tuy bộ môn nghệ thuật đó hay như thế nào nhưng lại có nguy cơ tàn lụi, bị bỏ quên do kinh thế, thị hiếu, sinh hoạt thay đổi. Ngày nay không phải ai cũng có thời gian nhàn rỗi để thưởng thức một loại nghệ thuật vừa dân gian vừa bác học. Trong dân gian thì chỉ nghe bài hát tình tứ mà thấy vui nhưng người trong lãnh vực bác học có thể thưởng thức tất cả từ lời ca, ý thơ, nghệ thuật sáng tác và biểu diễn.

Ngoài ra, đây là nghệ thuật rất độc đáo, đáng được coi là kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của quốc gia và của thế giới.

Điều kiện thứ tư là chánh quyền không bỏ rơi bộ môn nghệ thuật đó. Chánh quyền phải tỏ ra muốn bảo tồn bộ môn ấy. Không những chánh quyền mà nghệ nhân và quần chúng cũng thiết tha muốn gìn giữ bộ môn ấy. Có thể nói điều kiện thứ tư là cần có sự quan tâm đồng bộ từ chánh quyền đến nghệ nhân và quần chúng để hồ sơ xem xét được công nhận.

Hội đủ cả bốn điều kiện này không phải dễ, chính vì vậy mà nhiều bộ môn nổi tiếng của các nước vẫn chưa lập hay không muốn lập hồ sơ để yêu cầu UNESCO công nhận là di sản vǎn hóa phi vật thể. Có thể kể ra đây thí dụ Kinh kịch của Trung Quốc, mà Chánh phủ Trung Quốc không đề nghị UNESCO xem xét vì thiều điều kiện “có thể bị chìm trong quên lãng”; Gagaku-Nhã nhạc cung đình của Nhật-cũng không đệ trình UNESCO vì vẫn đang được sử dụng cho Thiên Hoàng.

Thời gian thiết lập hồ sơ là hai nǎm, UNESCO có thể tài trợ để thực hiện tư liệu bằng những phương pháp tối tân nghe nhìn. Tài liệu thuyết trình dài 100-200 trang với nội dung đầy đủ theo như bốn điều kiện của UNESCO. Ngoài ra bộ hồ sơ còn đòi hỏi việc sưu tập các sách báo xưa nay (chữ nôm, quốc ngữ) được phiên dịch sang Anh ngữ, những sách báo nước ngoài, trong nước quan tâm đến bộ môn, những phụ lục bằng hình tượng, hình ảnh, nhằm minh họa trực tiếp hay gián tiếp bộ môn nghệ thuật này. Đây là công trình tập thể nên rất cần thiết thành lập một Uỷ ban với nhiều chuyên viên có khả nǎng cùng nhau làm việc.

Muốn giới thiệu một bộ môn nghệ thuật trong nước, chúng ta phải khéo léo tuyển lựa để được UNESCO công nhận và tuyên dương.

Hồ sơ về Không gian vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã họp đủ các điều kiện tất yếu nêu trên.

Sau đó là hồ sơ phải được gửi đi 6 tháng trước khi Hội đồng Giám khảo xét duyệt. Trong khoảng thời gian này, UNESCO sẽ tìm một chuyên gia quốc tế để đánh giá bộ hồ sơ. Chuyên gia này sẽ không là người cùng quốc gia với bộ hồ sơ xin xét duyệt. Người này có nhiệm vụ tóm tắt bộ hồ sơ thành 25 trang, trong đó phải trả lời được những câu hỏi của UNESCO, mỗi câu trả lời cũng phải gói gọn trong báo nhiêu dòng, chữ. Với 25 trang này, một Uỷ ban sơ khảo sẽ xét duyệt trước khi chuyển đến Ban Giám khảo. Nếu vì không đủ kiến thức mà đánh giá sai và nhận định “hồ sơ nầy chưa đủ điều kiện để UNESCO xem xét” thì hồ sơ đó sẽ bị cho vào ngǎn kéo, không được ban giám khảo xem nữa. Trường hợp đó đã xảy ra. Nước bị thiệt thòi có kiện với UNESCO nhưng không bao giờ UNESCO xét lại một hồ sơ bị loại.

Bộ môn cồng chiêng Tây Nguyên trước đây chưa được nhiều người biết đến ngoài ông Jacques Dournes ông Pierre Huard viết rất ít và sơ bộ về dàn cồng Giarai và dàn chiêng Mnông Ma. Trong khi có nhiều sắc tộc mà mỗi sắc tộc có một cá tính. Người phương Tây không dám đánh giá cồng chiêng khi không nắm rõ vấn đề. Ông Georges Condominas có khả nǎng đánh giá thì lại được bình chọn vào Ban Giám khảo. Hội quốc tế về Khoa học xã hội đang chịu trách nhiệm xem xét đánh giá hồ sơ cồng chiêng đã gửi thư ủy thác công việc đánh giá cho tôi vì tôi là người chuyên môn về âm nhạc dân tộc Đông Nam á, đã có quan tâm viết một hai bài về cồng chiêng. Nhưng tôi đã từ chối với lý do làm vậy là trái với qui định, thêm vào đó là hiện nay tôi đang trở lại Việt Nam cư trú và làm việc nên hồ sơ càng không thể gửi trở lại cho quốc gia đã thiết lập. Nhưng cuối cùng, tôi đã nhận lời UNESCO bởi tổ chức tin cậy vào sự khách quan của tôi. Họ gửi hồ sơ về Việt Nam.

Lúc đó tôi ra Hà Nội 16 ngày. Sáng chiều làm việc với Uỷ ban soạn hồ sơ Ca trù, buổi tối lo việc đánh giá hồ sơ cồng chiêng. Điều kiện làm việc thật vất vả vì hai bộ môn này rất khác nhau. Nhất là cồng chiêng không là chuyên môn của tôi nên càng phải đọc và nghiên cứu cho thật kỹ. Một bài viết xếp trong phần phụ lục về cồng chiêng của Bùi Trọng Hiền làm tôi chú ý. Minh Châu, chuyên gia của Viện Âm nhạc Việt Nam gợi ý tôi gặp Bùi Trọng Hiền và giới thiệu Hiền cho tôi. Anh đã thuyết trình rành mạch về vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên cho tôi xem nhiều hình ảnh, nghe những bản anh ghi âm và phân tích tổng phổ do anh ký âm. Thật thú vị vì nhờ anh, tôi hiểu chính xác về vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Nhứt là mặt âm nhạc học. Tôi nắm rõ nét độc đáo kiệt tác của vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Đánh giá rất cao về vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, tôi đề nghị một cách rất nồng hậu UNESCO ghi vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên vào danh sách những kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại.

Ngoài ra còn phải kể đến sự ủng hộ của các cấp chánh quyền từ trung ương đến địa phương, ủng hộ trong tầng lớp quần chúng không riêng người dân tộc mà cả người Kinh.

Hồ sơ về vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, được tuyên dương là nhờ sự nỗ lực và nhứt trí của cả nước Việt Nam, từ chánh quyền Trung ương địa phương, đến nghệ nhân nghệ sĩ và dân chúng Tây Nguyên, các chuyên gia Việt Nam về dân tộc học, xã hội học, dân tộc âm nhạc học, các Viện, các cơ quan, các hội nghiên cứu, đặc biệt các chuyên gia trong Viện Vǎn hóa Thông tin Việt Nam đã lập hồ sơ đầy đủ, khoa học.

Vǎn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã bắt đầu được nhiều nước quan tâm. Đại sứ Việt Nam bên cạnh UNESCO Vũ Đức Tâm dự định mời dàn cồng chiêng sang Pháp để biểu diễn tại UNESCO nhân ngày Tết Việt Nam được Hội người Việt Nam tại Pháp tổ chức. Tháng 09/2006, Ban Tổ chức Liên hoan nhạc hội tại Torino (ý), mời tôi làm cố vấn tối cao về việc lựa tiết mục. Trong danh sách các bộ môn được mời trình diễn tôi có đề nghị cồng chiêng Tây Nguyên.

Có thể nói rằng khi một hồ sơ của bộ môn nghệ thuật được tuyên dương thì liền sau đó sẽ được nhiều nơi trên thế giới quan tâm. Chúng ta có may mắn qua hai lần được UNESCO tuyên dương Nhạc Cung đình Huế và cồng chiêng Tây Nguyên. Một bên là nhạc cao cấp của người Kinh, một bên là sinh hoạt trong dân gian của miền thượng. Trong những ngày tới đây, tôi sẽ tìm hình thức phù hợp để giới thiệu ca nhạc Tài tử miền Nam đến với UNESCO và các nước trên thế giới.

Bảng tóm tắt Điều kiện Diễn giải Minh họa cho điều kiện Điều kiện 1 Điều kiện 2 Điều kiện 3 Điều kiện 4 Thời gian Bề dày lịch sử của bộ môn Chiều sâu nghệ thuật của bộ môn Bộ môn là kiệt tác phi vật thể: Truyền khẩu Nguy cơ bị thất truyền Được chánh quyền quan tâm ủng hộ để bảo tồn bộ môn và giúp cho bộ môn có sức hồi sinh Được quần chúng quan tâm khi có cơ hội Hai nǎm một lần xem xét hồ sơ Vǎn kiện, sử liệu, hiện vật Sách báo, tài liệu sưu tầm trên thế giới nói về bộ môn (Tất cả phải được phiên dịch ra Ang ngữ) Công trình tập thể của các nhà chuyên môn về bộ môn Sử dụng nhiều phương pháp và máy móc tối tân trong lĩnh vực nghe nhìn để giới thiệu tư liệu Không truyền dạy bằng ký âm, phương Tây Số lượng người trẻ quan tâm rất ít. Chỉ còn một ít nghệ nhân già. Thất truyền vì có nhiều thay đổi về kinh tế xã hội Bằng những Nghị định ban hành với những biện pháp bảo vệ Số lượng người đến tham dự, gây được cảm hứng cho người diễn trong những lần biểu diễn. Gửi đến UNESCO 06 tháng trước ngày Ban Giám khảo làm việc.

Bảng tóm tắt

Điều kiện
Diễn giải
Minh họa cho điều kiện
Điều kiện 1 Bề dày lịch sử của bộ môn
Vǎn kiện, sử liệu, hiện vật

Sách báo, tài liệu sưu tầm trên thế giới nói về bộ môn

(Tất cả phải được phiên dịch ra Ang ngữ)
Điều kiện 2
Chiều sâu nghệ thuật của bộ môn

Công trình tập thể của các nhà chuyên môn về bộ môn

Sử dụng nhiều phương pháp và máy móc tối tân trong lĩnh vực nghe nhìn để giới thiệu tư liệu
Điều kiện 3

Bộ môn là kiệt tác phi vật thể:
Truyền khẩu
Nguy cơ bị thất truyền

Không truyền dạy bằng ký âm, phương Tây

Số lượng người trẻ quan tâm rất ít. Chỉ còn một ít nghệ nhân già. Thất truyền vì có nhiều thay đổi về kinh tế xã hội
Điều kiện 4

Được chánh quyền quan tâm ủng hộ để bảo tồn bộ môn và giúp cho bộ môn có sức hồi sinh
Được quần chúng quan tâm khi có cơ hội

Bằng những Nghị định ban hành với những biện pháp bảo vệv Số lượng người đến tham dự, gây được cảm hứng cho người diễn trong những lần biểu diễn.
Thời gian

Hai nǎm một lần xem xét hồ sơ

Gửi đến UNESCO 06 tháng trước ngày Ban Giám khảo làm việc.

 

Trần Vǎn Khê


(Bài nói chuyện của GS.TS Trần Vǎn Khê
Ngày 29/11/2005)

 

trích trang nhà Viện Âm Nhạc Hà Nội,

http://www.vnstyle.vdc.com.vn/vim/vietnamese/thongtin/bai_Congchieng_TVKhe.htm 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 19293134