Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Nguyễn Văn Hải:Nghệ thuật Cải Lương ở đồng bằng Nam bộ

 Cuộc sống đơn sơ, chất phác, nhưng đầy tình thương của những người dân ở vùng Đồng Bằng Nam Bộ, đã góp phần đáng kể cho nền văn minh, văn hóa Việt Nam ở nhiều khía cạnh. Trong đó, nghệ thuật cải lương là một trong những nét độc đáo, đã phần nào làm sống lại tình đoàn kết giữa con người với nhau. Mặt khác, nghệ thuật cải lương cũng phần nào bộc lộ được tính cách và bản chất của con người Việt Nam, là rất mềm giẻo và rất uyển chuyễn. Bên cạnh đó, nghệ thuật cải lương còn là một hình thức biểu diễn sống động và đầy chất nữ tính.

 

 


TRANG
VĂN HÓA

 


                                                                                                                               
Nghệ thuật Cải Lương ở đồng bằng Nam bộ Jun/10/01

 

  

Nguyễn Văn Hải

 

 

I. DẪN NHẬP

 

 

Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, hạt giống cải lương đã được thai nghén, được ấp ủ, nâng nui và rồi được sinh ra trên mảnh đất Nam Bộ chứa chan tình người. Giọng ca đó đã từ từ lớn lên và phát triển một cách không ngừng. Theo dòng chảy của thời gian, giọng ca đó đã hình thành những kịch bản sân khấu, đã đưa lại cho con người những niềm vui và nguồn sống mới làm vơi đi rất nhiều những căng thẳng sau những ngày làm việc vất vả. Khi cuộc sống của con người đòi hỏi có những nhu cầu giải trí, giọng ca ấy sẵn sàng đáp ứng. Từ những giây phút con người được thưởng thức một câu vọng cổ hay được nghe một đoạn âm nhạc cải lương, con người cảm thấy như mình đang bước vào một thế giới mới, thế giới của sự giải trí lành mạnh.

 

Để có được những giây phút thư giãn sau những ngày vất vả vì công việc, chúng ta cần để tâm lắng nghe những câu vọng cổ chứa chan niềm hoan hỉ và tràn đầy tính lạc quan. Qua đó, phần nào giúp cho thế hệ ngày nay nhận ra giá trị của nghệ thuật cải lương trong văn hóa Việt Nam nói chung, cách riêng ở Đồng Bằng Nam Bộ. Để rồi, dù thời gian có trôi qua, dù cuộc đời có mất đi, thì giọng ca cải lương vẫn được duy trì và phát triển. Vì, nghệ thuật cải lương là nét độc đáo của nến văn hóa Việt Nam, gồm hình thức và nội dung vô cùng phong phú, mang đậm tình người và đậm đà tình dân tộc.

 

 

 

II. LỊCH SỬ CỦA NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG

 

II.1 Hình Thành:

 

Cải lương ra đời vào những thập niên của đầu thế kỷ XX ở địa bàn miền Tây Nam Bộ. Cải lương được hình thành từ những lối ca hát tài tử, cũng có nhiều người cho rằng: cải lương là hình thức ca ra bộ và dần dần phát triển thành những kịch bản được diễn xuất trên sân khấu, nhằm đáp ứng nhu cầu của khán thính giả lúc bấy giờ. Lúc này, đã có nhiều đoàn cải lương chuyên nghiệp, hoạt động một cách rộng rãi ở nhiều tỉnh Nam Bộ, rồi lan dần ra miền Trung và ngay cả miền Bắc cũng đón nhận giọng ca cải lương này. Có thể nói rằng: cải lương là một loại hình sân khấu nghệ thuật tổng hợp, được đúc kết và diễn đạt trên phương diện của nhiều tư tưởng. Nói cách khác, đây là một loại hình sân khấu được đúc kết và có sự giao thoa giữa cái cũ và cái mới. ( kim cổ giao duyên)

 

Có thể nói: quá trình hình thành nghệ thuật cải lượng, là một qúa trình khá phức tạp. Vì, đất nước chúng ta còn nghèo về nhiều mặt, đặc biệt là về khía cạnh của cải vật chất, muốn hình thành một đoàn cải lương trước hết phải có tài chánh, nếu không thì không tạo tinh thần cho những người đến với ngành nghệ thuật một cách bền vững.

 

 

 

II.1.a Kịch Bản

 

Về những điều kiện để hình thành nên nghệ thuật cải lương, thì kịch bản là một trong những vấn đề đóng vai trò quan trọng. Có thể nói, “ Kịch bản cải lương rất đa dạng và phong phú, được lấy từ thần thoại, cổ tích, tiểu thuyết, kịch bản trong nước, ngoài nước và có một số tự sáng tác”[1] Vì thế, kịch bản cải lương tạo một phong cách độc đáo, được thể hiện qua các vai diễn. Mỗi khi kịch bản được lấy từ những chuyện  thần thoại hay những chuyện của đời thường, rất gần gũi với cuộc sống, cho dù là ở nông thôn hay thành thị, thì kịch bản cải lương vẫn thể hiện một cách linh động và đầy tính sáng tạo. Lúc bấy giờ, những vở cải lương được trích từ các truyện cổ tích, như: Lục Vân Tiên, Lưu Bình Dương Lễ… Về sau có những vở lấy từ truyện Tấm Cám, từ tiểu thuyết như truyện Kiều và tiểu thuyết hiện đại, hoặc có những sáng tác theo chủ đề lịch sử xã hội hay trích từ các kịch bản, tiểu thuyết của nước ngoài.

 

Âm nhạc cải lương cũng không kém phần phong phú, nào là nhạc dân ca, nhạc truyền thống và sau này có pha trộn thêm tân nhạc. Lúc này, làn điệu vọng cổ không những đóng vai trò chủ chốt mà có thể nói là linh hồn của cải lương. Bên cạnh đó, nhạc cụ cải lương cũng đóng một vai trò, một vị trí đáng kể. Mặc dù, chỉ sử dụng nhạc cụ truyền thống ( đàn cò, đàn nhị, đàn nguyệt, đàn tranh, trống cơm…) về sau này có thêm một số nhạc khí của Phương Tây. Như vậy, chúng ta thấy được nét phong phú, đa dạng và vô cùng sống động của âm nhạc cải lương. Qua đó, phần nào cho mỗi người Việt Nam chúng ta cảm nhận sâu xa về một nét văn hóa mang đậm đà màu sắc dân tộc.

 

Cho dù, cải lương được khởi xướng từ một vùng nông thôn nghèo khổ, người dân phải lam lũ với ruộng đồng, phải chống chọi với thiên nhiên… Thế nhưng, con người Việt nói chung, cách riêng là người dân Nam Bộ vẫn luôn lạc quan và yêu đời. Họ nhìn cuộc sống với một niềm tin và tràn đầy niềm hy vọng.

 

 

 

II.1.b Tác Giả

 

Từ đời sống lạc quan như vậy, đã xuất hiện nhiều văn nghệ sĩ tài năng, họ đã đúc kết được những bài học qúy báu ngay trong chính đời sống bình thường và rồi cùng với diễn viên xây dựng thành kịch bản của sân khấu.

 

Ngay từ lúc bắt đầu hình thành những đoàn hát cải lương, thì mỗi đoàn thường có một ông bầu và nghệ nhân cũng được đào tạo để chuyên nghiệp hóa. Từ đó, ta cũng thấy được vai trò và vị trí của tác giả cùng với diễn viên trong Cải lương quan trọng tới mức nào. Có thể nói: những người đầu tiên khám phá và hình thành nên lối hát cải lương, đó là: “ Ông Phó Mười Hai tên thật là Tống Hữu Định (1869- 1932) quê làng Long Châu, thị xã Vĩnh Long tỉnh Vĩnh Long; có người lại cho là thầy Năm Tú tên thật là Châu Văn Tú ở Mỹ Tho; người khác lại cho rằng: người bày ra lối hát cải lương đầu tiên là thầy Tư Thuận tức là André Thuận ở Sa Đéc…”[2] Bên cạnh tác giả, thì diễn viên là điều không thể thiếu trong cải lương.

 

Lúc bấy giờ, diễn viên cũng chính là những người nông dân, nhưng họ có năng khiếu và có ý chí tập luyện giọng ca của mình. Từ đó, họ đã trở thành những diễn viên xuất sắc khi có mặt trên sân khấu, như: “ Cô Ba Định trong vai Kiều Nguyệt Nga; Ông giáo Diệp Minh Kỳ trong vai Bùi Kiệm và Ông giáo Du trong vai Bùi ông; Thầy phó Mười Hai…”[3] Như vậy, theo thời gian, chúng ta cũng thấy được sự phát triển số lượng diễn viên rất đông, cho đến bây giờ không chỉ riêng ở miền Nam mà ở miền Trung và ngay cả miền Bắc cũng xuất hiện nhiều diễn viên cải lương xuất chúng. Có lẽ, những gì thuộc về tính chất và bản sắc văn hóa, thì nó có xu thế phát triển không biên giới và được nhiều người tiếp nhận, không phân biệt ở bất kỳ tầng lớp nào.

 

II.2  Bối Cảnh

 

Giai đoạn này, đất nước chúng ta nói chung và cách riêng ở vùng Đồng Bằng Nam Bộ đang gặp những khó khăn ngay từ những ngày đầu. Nhất là, giai đoạn: Nam Kỳ Lục Tỉnh lần lượt thành đất thuộc địa Pháp 1862 và 1867 đến 1945 mới trở về là đất Việt Nam. Đối với đất nước chúng ta, thì việc dựng nước và giữ nước gắn liền với nhau, thể hiện qua ý chí chống giặc ngoại xâm và phải trải qua nhiều bước thăng trầm. Trong quá trình này, có thời kỳ chúng ta bị đô hộ, nhưng cũng có giai đoạn chúng ta tự chủ.

 

Những giai đoạn thăng trầm đó, đã làm ảnh hưởng đáng kể đến qúa trình phát triển văn hóa và văn nghệ.

 

 

 

II.2.a  Giai Đoạn Đất Nước Phát Triển

 

Văn hóa, lịch sử nước ta có thể phân thành các thời kỳ phát triển như sau: thời kỳ thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên; thời kỳ Việt Nam độc lập; thời kỳ Pháp thuộc; thời kỳ sau cách mạng 1945 cho đến nay. Trong khoảng thời gian từ 1945 đến nay đất nước phát triển chậm, là vì: vào đầu thiên niên kỷ thứ hai, quốc gia Việt Nam, dân tộc Việt Nam mới được xác lập và tồn tại, thì bị giặc ngoài xâm lược. Cả nước lúc này lâm vào tình trạng bị đô hộ. Thời kỳ này (1862 –1945) còn gọi là thời kỳ Bắc thuộc, tức là sự đô hộ, áp đặt văn hóa của phong kiến phương Bắc và có sự chống phong kiến phương Bắc đô hộ, để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc. Từ chỗ, chúng ta chống đô hộ phong kiến phương Bắc thành công, cho nên mới tồn tại nền văn hóa Việt Nam hiện nay.

 

Trước tiên về sự đô hộ của phong kiến phương Bắc, phải nói rằng: khi chúng sang đô hộ nước ta, thì xã hội phương Bắc đã phát triển hơn xã hội Việt Nam… Thời kỳ đó phương Bắc có tổ chức xã hội chặt chẽ hơn và đã hình thành hệ tư tưởng trong xã hội. Khi sang đô hộ Việt Nam, người Hán có ý thức áp đặt mô hình tổ chức xã hội Trung Hoa phong kiến vào xã hội Việt Nam, để đô hộ lâu dài ở Việt Nam. Vì thế, đất nước Việt Nam phải chịu một áp lực nặng nề, người dân phải lầm than, cực khổ đã nghèo càng nghèo thêm. Bên cạnh đó còn có biết bao hệ lụy kèm theo, nào là thiếu thốn cái ăn, cái mặc, nào là nạn thất học… Người Việt Nam lúc này cảm thấy thất vọng, họ thất vọng về nhiều khía cạnh. Thế nhưng, người Việt Nam đã không cam chịu trước một thế lực nào, họ đã cùng nhau đồng sức, đồng lòng chống giặc ngoại xâm và rồi những đám mây đen từ từ tan dần, cuối cùng chỉ còn lại một bầu trời trong xanh tràn đầy sức sống. Trong đó, có vùng trời Nam Bộ.

 

Để hiểu thêm về điạ lý cũng như  về văn hóa, tôi xin đề cập đến một vài điểm qua chuyến đi thực tế. Về địa lý: Nam Bộ được chia thành hai miền, là: miền Tây và miền Đông. Miền Tây là vùng châu thổ sông Cửu Long, có đất đai bằng phẳng và rất màu mỡ. Toàn bộ châu thổ có độ phù sa khá cao, hằng năm vẫn tiếp tục được bồi đắp bằng phù sa của sông Cửu Long, nhưng vẫn không tạo ra độ cao mới là bao, bởi vì địa chất của cả một khu vực lớn đang bị lún đều. Mặt khác, đây cũng là vùng có nhiều kênh rạch, thuận tiện cho việc trồng lúa và phát triển hao màu. Miền Đông là vùng châu thổ sông Đồng Nai, vùng chân dài của cao nguyên Tây Nam Trung Bộ, có nhiều núi nhấp nhô giữa những đồng bằng và đất không mấy màu mỡ. Khí hậu ở Nam Bộ chỉ có hai mùa, nhiệt độ thay đổi không đáng kể, nhiệt độ trung bình khoảng 300c. Phải chăng, từ chỗ vị trí địa lý và địa hình như vậy, đã ươm mầm cho giọng ca Cải lương có một giá trị nghệ thuật sâu xa, một không khí hài hòa và một tinh thần chất chứa nữ  tính. Sáu câu vọng cổ được khởi đi từ bài ca “ Dạ cổ hoài lang”, tức là nghe tiếng trống đêm nhớ người tình. Bản Dạ cổ hoài lang ban đầu chỉ là một bài hát có nhịp tư đến nhịp tám, nhịp mười sáu đến nhịp ba hai và cuối cùng chuyển dần đến nhịp sáu mươi tư như sau này.

 

“ Từ là từ phu tướng,

 

Bửu kiếm sắc phong lên đàng,

 

Vào ra luống trông tin chàng,

 

Đêm năm canh mơ màng,

 

Trông ngóng trông tin nhàn.

 

Gan vàng thêm đau,

 

Lòng dầu xa ong bướm.

 

Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang,

 

Trông luống trông tin bạn,

 

Ngày mỏi mòn như đá phọng phu.

 

Vọng phu vọng luống trông tin chàng.

 

Năm canh mơ màng.

 

Chàng là chàng có hay?

 

Đêm thiếp nằm luống những sầu tây,

 

Bao thuở đó đây sum vầy,

 

Duyên sắc cầm tình nhưng ý y.

 

Là nguyện cho chàng!

 

Đặng chữ bình an,

 

Mau trở lại gia đàng,

 

Cho thiếp cùng chàng hiệp nhau.”[4]

 

 

 

II.2.b Tư Duy Con Người Tiến Bộ

 

Song song với vấn đề phát triển của đất nước, thì tư duy con người lúc này cũng trên chiều hướng tiến triển.

 

Khi lịch sử được lật sang một trang mới, nhất là từ trang sử chiến tranh chuyển sang trang sử hòa bình, thì nhu cầu thưởng thức của công chúng về khía cạnh văn nghệ, nhất là về cải lương đã thay đổi một cách khá rõ nét. Thay đổi theo một xu hướng cao hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn về các mặt, như: nhận thức, giáo dục thậm mỹ cũng như mặt giải trí và lẫn cả mặt giao tiếp. Vì thế, nhu cầu mới này từ phía thưởng thức tất yếu sẽ dội qua phía sáng tạo và buộc văn nghệ sĩ phải đáp ứng. Bên cạnh đó, tự thân người sáng tác cũng có những nhu cầu mới do hoàn cảnh lịch sử mới nẩy sinh. “ Cho nên, phương châm lấy người tốt, việc tốt, lấy cái đẹp, cái hay, cái kiên cường, dũng cảm, cái cao cả anh hùng… làm đối tượng thể hiện chính yếu; không thể là phương châm thống lĩnh trong văn hóa cũng như nghệ thuật như trong thời chiến tranh nữa.”[5] Đối tượng của nghệ thuật cải lương ngày càng cần được mở rộng và được đúc kết thành những bài học cho mọi thế hệ. Thực ra, xu hướng mở rộng về nghệ thuật cải lương đã được ấp ủ từ những năm cuối chiến tranh. Nó chớm nở và phát triển ngay sau khi đất nước mới được hòa bình thống nhất (1975) và cho đến nay, thì nó đã trở thành hiển nhiên trong hàng loạt của phương thức trình diễn khác. Đây là một bước tiến mà giới văn nghệ sĩ đánh giá cao và rất lấy làm vui mừng. Bởi vì, nó đáp ứng được một nhu cầu rất chính đáng của con người nói chung cũng như cách riêng đối với những ai yêu thích cải lương, trong bối cảnh của cuộc sống bình thường và ổn định. Nhu cầu này được nhận biết dưới một lăng kính hiện thực, đa diện và toàn cảnh.

 

Cải lương, không chỉ đáp ứng nhu cầu hiện thực, như: vui vẻ, lạc quan hay toàn cảnh của đất nước chiến tranh và hoà bình mà còn thể hiện ngay cả trên bình diện văn hóa. Có lẽ, đất nước chúng ta đã trải qua những thảm cảnh bi đát của chiến tranh khốc liệt, và vì thế khi một vở cải lương được dựng nên, thì thường thiên về cái hay, cái đẹp…Điều này, ở một khía cạnh nào đó thì không được phong phú và nếu đi sâu vào thì tính thuyết phục người xem rất thấp. Nếu biết khai thác tích cực các khía cạnh chết chóc, mất mát, đau thương của người dân do chiến tranh, thì có lẽ thêm phần phong phú cho vấn đề trình diễn sân khấu cải lương hơn. Sở dĩ, cải lương được quần chúng cũng như giới người dân tiếp thu một cách mau lẹ, là vì: cải lương là một trong những môn nghệ thuật thể hiện sâu xa về bản sắc văn hóa của dân tộc. Có thể nói rằng: cải lương luôn diễn tả tâm trạng cũng như bối cảnh của người Việt Nam ở từng giai đoạn.

 

 Khi đã là nghệ thuật, thì có một nét gì đó mà khiến chúng ta phải quan tâm và tìm hiểu. Và từ từ mỗi người trong chúng ta sẽ khám phá ra chất cải lương ngay chính con người của mình. Một chất cải lương không phải vừa khóc vừa cười như một số người thường quan niệm, nhưng là bộc lộ một tấm lòng chân thành, đầy ắp những niềm vui và niềm vui đó có thể đem chia sẻ cho nhau, bằng một câu hát hay một nụ cười.

 

 

 

III. ĐỈNH CAO CỦA NGHỆ THUẬT CẢI LƯƠNG

 

III.1 Giá Trị Văn Hóa

 

Trong đời sống của con người, vô cùng những khía cạnh nói về văn hóa có giá trị thực chất. Nhưng, dù sao đi nữa, bất kỳ một di sản văn hóa nào, thì cũng có những giai đoạn phát triển của nó và ở đỉnh cao hay còn gọi là điểm son. Thì, trong nghệ thuật cải lương cũng vậy, nó cũng có những giai đoạn biến chuyển, thay đổi. Vì thế, tôi xin đề cập đến đỉnh cao của nghệ thuật cải lương.

 

Ngay trong chính bản thân nghệ thuật cải lương, về thi pháp, sáng tạo, thì nó đã hàm chứa hai đặc điểm có vẻ trái ngược, nhưng lại rất thống nhất, đó là: sự khép kín mang tính định hình của những qui ước sân khấu truyền thống ( các bài bản ca hát, các giai điệu âm nhạc, các qui ước biểu diễn của diễn viên…) và sự mở ra của các hình thái nghệ thuật sân khấu ở khả năng thích hợp của nó. Mặt khác, nghệ thuật cải lương còn có một khuôn mặt riêng khả ái, mang đầy chất nữ tính. Cho nên, vừa đậm đà sắc thái truyền thống, lại vừa ngời ngời một ánh sáng hiện đại, làm cho con người cảm thấy cuộc sống thanh thản và sống lạc quan yêu đời hơn. Nhưng con người cũng đừng qúa lạm dụng thời gian, mà làm ánh hướng tới công việc của gia đình cũng như những công việc của xã hội.

 

 

 

III.1.a Con Người

 

Con người được sinh ra, lớn lên ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thí con người cũng luôn vươn tới cái hay, cái đẹp và sự hạnh phúc.

 

Muốn đạt được điều đó, thì điều đòi hỏi đầu tiên, đó là: con người phải ra khỏi mình, để tiếp cận với những thông tin của xã hội. Nếu, con người không biết tiếp thu những giá trị văn hóa nghệ thuật của thời đại, mà chỉ biết chấp nhận một lối sống bảo thủ, thì không những cá nhân đó không có niềm vui hay sự lạc quan, mà còn làm ảnh hưởng tới những người xung quanh và ngay cả mặt xã hội cũng trở nên tẻ nhạt. Trong khi đó, phần đông con người trong xã hội chủ trương làm sao phải tạo cho nhau có niềm vui, để đất nước ngày càng phát triển về mặt tinh thần cũng như về tính tương quan giữa con người với nhau.

 

Vì thế những tác phẩm của những nhà soạn giả cũng phải làm sao thích ứng, làm sao để đưa con người tới một chân trời mới, chân trời của tính nghệ thuật.

 

 

 

III.1.b  Soạn Giả

 

Khi nhắc đến soạn giả, thì không thể nào quên những vị tiền bối đã góp công, góp sức đáng kể cho việc hình thành nên những tác phẩm đầu tiên của nghệ thuật cải lương.

 

Truớc tiên đề cập tới ông Toản. Theo một số tài liệu cho biết: “ ông Toản đã sang Paris và hoạt động chính trị ở đó, ông được mệnh danh là một soạn giả hữu danh, một nhà hoạt động chính trị, ông đã xây dựng một  tác phẩm để diễn tả tâm trạng của ông như ông mơ ước”[6]. “ Năm 1918 thì có André Thuận, nhưng sau đó ông truyền cho thầy Châu Văn Tú ( Mỹ Tho) Thầy Châu Văn Tú đã học hỏi những kinh nghiệm từ ông Thuận cùng với những khám phá của ông, Thầy Tú đã hoàn thành kịch bản Kim Vân Kiều”[7]. Về sau, còn có Đồng Bào Ban ( Bốn sự) Nam Đông Ban ( Hai cu). Trong đó, có những người nổi danh như: Năm Phỉ, Bảy Phùng Há, Tư Sạng, Hai Giỏi, Năm Châu… Từ những soạn giả này, mà dần dần Cải lương đã phát triển và lan tỏa khắp nơi, tới đâu cũng được khán giả mến mộ.

 

Từ những kịch bản được các soạn giả thai nghén và sinh ra, thì bên cạnh đó là những đoàn hát cũng ra đời.

 

 

 

III.1.c  Đoàn Hát

 

Qua rất nhiều thế hệ, nghệ thuật cải lương không hề mai một, ngược lại nó còn phát triển mạnh mẽ cả về số lương lẫn chất lượng.

 

Cho tới lúc này đã hình thành rất nhiều đoàn hát cải lương. Trong đó, có 22 câu lạc bộ lớn, với nhiều lứa tuổi khác nhau, phần nào đã cho ta thấy sự thiết tha yêu nghề của họ, cùng với giọng ca trẻ đã làm cho những ai quan tâm đến sự hưng thịnh của giọng tài tử cải lương Nam Bộ được yên lòng khi chứng tỏ rằng họ là những lực lượng kế thừa. Để chứng tỏ điều này, với những ngón đờn điêu luyện, giọng ca mượt mà chứa đựng nhiều cảm xúc đã chứng minh phong trào giọng ca tài tử tại Thành phố và nhiều tỉnh Nam Bộ không hề suy yếu mà càng ngày lại thêm một vững vàng. Đi thâm nhập thực tế tại nhiều địa phương hiện nay, tôi nhận thấy giọng ca cải lương đã bén sâu vào tâm khảm của người dân, được đông đảo công chúng tại cơ sở quan tâm. Ở nông thôn ngoại thành, giọng ca tài tử đã nổi bật với các yếu tố của một phong trào văn hóa dân tộc có sức sống bền vững. Không kể các cơ sở đào tạo của nhà nước như tại trung tâm văn hóa Thành Phố Hồ Chí Minh, nhà văn hóa Thanh niên, các trung tâm văn hóa quận , Huyện Hóc Môn, Củ Chi…, mà ngay cả trong dân gian tự phát như ở Tân Thới Hiệp, An Nhơn Tây, qua Tân Phú Trung, Chợ Đệm, Vĩnh Lộc, rồi sang Tân Qui Đông…, đâu đâu cũng có những nhóm, những câu lạc bộ ca tài tử sinh hoạt thường xuyên, tuy âm thầm nhưng không kém phần sôi động. Người dân xem sinh hoạt tài tử ngoài giờ lao động như một chuyện tự nhiên của trời đất nắng mưa. Đa số các ca sĩ tài tử hiện nay, đã đạt đến trình độ cao trong cung cách biểu diễn cũng như lưu loát trong giọng ca. Cho nên, thu hút được khán giả ngày càng đông bằng chính giọng ca của mình, như: Trọng Ánh, Út Mót, Mỹ Ngọc Chi ( Củ Chi), đã làm cho các bậc lão làng trong miền tài tử phải gật gù khen ngợi và tin tưởng vào khả năng chuyên môn cùng tâm huyết của lớp con cháu kế thừa.

 

Chúng ta có thể thấy một hình ảnh tre già măng mọc qua giọng ca của những người đi trước và giọng ca của thế hệ hiện nay. Niềm vui lớn lao của những người yêu thích tài tử cải lương Nam Bộ, vốn đã bén rễ lâu đời tại mảnh đất thân yêu này, vẫn tiếp tực được giữ gìn và lưu truyền mãi mãi. Bên cạnh đó, một sự khích lệ lớn lao, là: có sự định hướng của nhà nước, nên giọng ca cải lương càng có cơ hội đâm chồi nẩy lộc, đơm hoa kết trái hòa cùng nhịp sống sôi động của một nền công nghiệp hiện đại, phát triển mà vẫn vững vàng trên nền tảng văn hóa và cốt cách của dân tộc Việt Nam.

 

 

 

III.2  Giá Trị Nhân Bản

 

Cải lương đã đưa lại một giá trị tinh thần cho người Việt Nam khá sâu sắc và cụ thể. Nó khai thác thế giới tâm hồn của con người, bằng cảm nhận của tinh thần,  đạo lý và tâm lý triết học phương Đông, Phật Giáo ( với 14 điều răn dạy) trong đó có sự chấp nhận, bao dung, tha thứ và đoàn viên là các tố chất chính.

 

Thế giới tình cảm được chắt lọc ( như chất liệu) và được thăng hoa ( qua ngôn ngữ và phương tiện nghệ thuật biểu diễn đầy sức truyền cảm của diễn viên) tác động mạnh và trực tiếp nhận thức tình cảm của người xem. Sự đồng cảm giữa con người với nhau cũng xuất hiện từ đây, thậm chí người xem còn tác động trở lại, nhằm đẩy sự khích lệ lên cao hơn nữa ở nơi diễn viên. “ Nhất là khi diễn viên ca những bài Oán, khi họ hoàn thành một cách ngọt ngào về phần lời nói lối gối sang câu và chữ “ đổ” bài vọng cổ … và được công chúng vỗ tay tán thưởng, thì người diễn viên đã biết chắc là yên tâm rồi và lúc đó càng có tinh thần diễn xuất hay hơn!”[8] Có những câu chữ nghề nghiệp mà chỉ ngành cải lương mới có, như: ca “ có ngầu”, ca “ quên sầu”, ca “ mùi mẫn” và ca lấy nước mắt khán giả…, đều thể hiện một tính chất sâu thẳm của con người Việt Nam.

 

Qua đó cho chúng ta thấy: cả người sáng tạc lẫn người xem đều mong muốn một kết thúc “ có hậu”, vì vậy cách đặt vấn đề của kịch bản và vở diễn lúc ban đầu có thể khác nhau, nhưng khi đi vào giải quyết và kết thúc vấn đề, thì không còn khác nhau nữa. Ví dụ: chuyện cổ thì được giải oan, chuyện kim thì sau những giải thích, thì không còn hiểu lần nữa, sau khi đã nhận ra thì “ cải tà quy chính”, còn những người đã từng bị hành hạ, đau khổ sẽ lại tha thứ, bao dung hoặc báo trước một điều kiện “ cho quay lại”.

 

Với những đặc trưng dễ nhận thấy đó, thì cải lương đã để lại nhiều vở diễn mang đậm “ tình cảm” được ghi nhận ở từng giai đoạn khác nhau, nhưng đều mang một đặc tính là thể hiện nhân cách con người.