Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Âm nhạc cổ truyền

Vĩnh Phúc : Nhã Nhạc Triều Nguyễn - Sự kế thừa và phát triển

 

Nhã nhạc triều Nguyễn - Sự kế thừa và phát triển

Vietsciences- Vĩnh Phúc     06/03/2007   
 

Những bài cùng tác giả 

Vương triều nhà Nguyễn từ khi mới lập nghiệp ở phương Nam đã sớm biết sử dụng nghệ thuật âm nhạc để “di dưỡng tinh thần” và để biện chính cho sự nghiệp bá vương của mình trong thế đối lập với nhà Trịnh ở Đàng Ngoài. Ngay từ đời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (1613 - 1635) Lộc Khê hầu Đào Duy Từ đã lập ra Hòa Thanh thự luyện tập một ban vũ và nhạc để múa hát vào những ngày khánh lễ. Hòa Thanh thự gồm 3 đội...Đội Nhất và đội Ba trông coi về nhạc, đội Nhì trông coi về ca và vũ.[1] Cố nhiên, đây chưa phải là Nhã nhạc, nhưng đã tạo dựng nền tảng nghệ thuật chuyên nghiệp, làm tiền đề cho âm nhạc cung đình các vương triều sau.

Sang thế kỷ XIX, dưới các triều vua nhà Nguyễn, các loại hình nghệ thuật cung đình mới thực sự phát triển theo mô thức, quy phạm của Nhà nước Phong kiến. Ngay từ khi Gia Long lên ngôi (1802) mặc dù còn bận sắp đặt lại chính quyền trong nước, chỉnh đốn lại sinh hoạt cho nhân dân nhưng không vì thế mà ít quan tâm đến âm nhạc. Nhiều sử liệu cho biết vua Gia Long đã cho thành lập hai đội Tiểu namTiểu hầu chuyên trông coi về nhạc và luyện tập múa hát trong cung. Năm Gia Long thứ ba, hai đội này được hợp nhất lại dưới tên Việt tương đội.

 Thời Minh Mạng càng được phát triển quy mô hơn với Duyệt Thị Đường, nhà hát đầu tiên ở Việt Nam được xây dựng trong cung; Thanh Bình Thự, một cơ quan quản lý nghệ thuật và huấn luyện nghệ nhân ca, múa, nhạc cung đình được thành lập... Và chính Vua cũng đã tự tay viết câu đối nổi tiếng về âm nhạc - sân khấu treo trước Duyệt Thị Đường :

“Âm nhạc tịnh trần, hòa kỳ tâm dĩ dưỡng kỳ chí

Nghiên xuy tề hiến, thủ kỳ thị nhi giới kỳ phi”

       Có nghĩa là :

“Tiếng nhạc trong trẻo vang lên, cho tâm hồn được hòa   hợp, ý chí được di dưỡng,

Xấu tốt cùng trình diễn, cho lẽ phải được giữ gìn, điều trái được né tránh”

Sử liệu còn cho biết :Vua đặt ra bản nhạc Ngũ hưởng cho ban nữ nhạc tấu khi tế các Miếu và tuyển thêm 50 nữ nhạc dưới quyền hai nữ quan điều khiển, đợi lúc tế dâng rượu thì muá nhạc,[2] chính vua Minh Mạng đã bàn về vấn đề cắt đặt lễ nhạc. [3]

Đây là giai đoạn cực thịnh của nghệ thuật cung đình triều Nguyễn. Những nghi thức, lễ lạc của một nhà nước phong kiến được bộc lộ đầy đủ nhất, đã chi phối toàn bộ sự phát triển của các loại hình nghệ thuật cung đình. Các tổ chức âm nhạc trong cung từ thời các chúa Nguyễn, đều được các đời chúa đời vua nhà Nguyễn sau này duy trì, kế thừa và phát triển này càng quy mô, hoàn chỉnh hơn. Chẳng hạn về sau, vua Thành Thái đổi thành Võ can đội, nhân viên có 120 người và 20 đồng ấu. Đến đời Khải Định tuyển thêm 30 đồng ấu nữa vào Võ can đội...

 

 

Các nhạc công đồng ấu trong biên chế dàn Tiểu nhạc- khoảng

năm 1920. Sưu tập ảnh của Phan Thuận An.

 

            Nhạc lễ (cung đình) là một loại thể của Âm nhạc cung đình, bao gồm toàn bộ loại nhạc nghi thứctế lễ của triều đình. Trong quá khứ, theo một số tư liệu rất ít ỏi còn lại, có lúc, đã được các sử gia phong kiến gọi chung là Nhã nhạc.

            Tên gọi này rất biểu trưng. Chúng tôi cũng muốn căn cứ vào một vài chứng liệu lịch sử để gọi phần lớn các loại nhạc nghi thức và tế lễ cung đình là Nhã nhạc. Tuy vậy, sử liệu âm nhạc Việt Nam, dù rất hiếm hoi, nhưng cũng rất không nhất quán. Nhã nhạc, có thời là toàn bộ âm nhạc cung đình chính thống; là để phân biệt với tục nhạc; là bao gồm cả múa văn - võ; có thời, chỉ là nhân thanh. Có khi đồng nhất với Nhạc lễ, laị có khi chỉ là một bộ phận của Nhạc lễ; là tổ chức, biên chế của một dàn nhạc, mà biên chế đó cũng không hề nhất quán. Dưới triều Nguyễn, có lúc, Nhã nhạc như tương đồng, hoặc thay thế vai trò của dàn  Tiểu nhạc, phân biệt rạch ròi với các loại dàn nhạc khác như   Đại nhạc, Nhạc huyền... Nhưng gần đây và cả hiện nay, theo Gs Trần Văn Khê, cũng như một số nhà nghiên cứu, nghệ nhân khác (kể cả trong chương trình giảng dạy Nhã nhạc của trường Đại học Nghệ thuật Huế hiện tại), Nhã nhạc còn tồn tại ở cả hai loại: Tiểu nhạc và Đại nhạc v.v...

 Do đặc điểm lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, nên quá trình phát triển của âm nhạc cung đình nói chung, Nhã nhạc Việt Nam nói riêng khá phức tạp. Nhưng khó khăn lớn nhất, như ý kiến của Gs Tô Ngọc Thanh : “do thiếu tư liệu nên không thể nhìn sâu vào quá khứ hơn những gì đã tồn tại trong hơn một trăm năm của triều Nguyễn, đặc biệt là về âm nhạc”..., nhưng sau khi so sánh, đối chiếu giữa các nước có Nhã nhạc như Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam, Gs đã có nhận xét : “Nhã nhạc được hiểu như toàn bộ âm nhạc cung đình chính thống của các triều đại phong kiến của cả bốn nước...Chức năng chung của Nhã nhạc là loại nhạc lễ và nghi thức (ritual and ceremonial music) của cung đình.[4]

Chúng tôi cũng gặp trong Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh giải thích Nhã nhạc là âm nhạc chính đáng; Khâm Định Đại Nam Hội điển Sử lệ gọi Nhã nhạc là chính nhạc, người xưa dùng để tế Giao; Lê Quý Đôn chú thích chữ Nhã có nghĩa là chính đính, những bài hát ở chốn triều đình [5]...

Chúng ta đều biết, Nhạc lễ cung đình của Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên đều bắt nguồn từ Trung Hoa, mà trong tên gọi cũng còn có sự liên quan ít nhiều : YaYueh (Trung Hoa), Nhã nhạc (Việt Nam), Ahak (Triều Tiên), Gagaku (Nhật Bản). Tuy vậy, mỗi nước đã tiếp thu ở Trung Hoa vào những thời kỳ khác nhau.

 Nhật Bản  tiếp thu từ Nhã nhạc nhà Đường ở Trung Hoa vào thế kỷ thứ VII, có sự kết hợp với âm nhạc của ba nước Triều Tiên cổ (Tam Hàn) cùng với âm nhạc Phật giáo Ấn Độ, đã dần dần Nhật Bản hoá và trở thành Nhã nhạc Nhật Bản, bao gồm trong 5 loại sau :

1. Hoà nhạc (nhạc Nhật bản chính thống, không pha tạp)

2. Đường nhạc (tiếp thu từ nhạc cung đình nhà Đường    TQ)

3. Kỹ nhạc (tiếp thu từ  TQ, kết hợp âm nhạc, múa và sân khấu)

4. Cao ly nhạc (tiếp thu từ Triều Tiên cổ)

5. Lâm ấp nhạc (có nguồn gốc từ Âm nhạc Phật giáo Ấn Độ).[6]

***

Đối với Triều Tiên, khoảng thế kỷ thứ V đã có sự tiếp xúc, tiếp thu âm nhạc Trung Hoa...nhưng đến thế kỷ X trở đi, Nhã nhạc mới chính thức có mặt trong ba hệ thống âm nhạc chính thống của Triều Tiên như : Hương nhạc (âm nhạc truyền thống vốn có), Đường nhạc (tiếp thu âm nhạc  nhà Đường Trung Hoa), Nhã nhạc (tiếp thu âm nhạc nhà Đường Trung Hoa).[7]

Ở Việt Nam, sử liệu cho biết tên gọi Nhã nhạc được du nhập vào dưới thời nhà Hồ. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm Thiệu Thành thứ 2, (1402) có sự kiện Hồ Hán Thương tổ chức lễ Tế giao không thành. Nhà vua đã “Đặt nhã nhạc, lấy con quan văn làm kinh vĩ lang, lấy con quan võ làm chỉnh đốn lang, tập điệu múa văn, võ”.[8] Sử gia Ngô Thì Sĩ (1726 - 1780) đã bàn : “Từ thời Trần trở về trước, lễ giao tế trời không thể cử hành được, có lẽ là lễ nhạc chế độ còn thiếu thốn nhiều đấy”...[9] Tuy nhiên, trong quyển An Nam chí lược của Lê Tắc, có cho chúng ta biết trong cung đình nhà Trần (1225 - 1400) đã có hai dàn nhạc : Đại nhạc Tiểu nhạc. Đại nhạc gồm 5 nhạc cụ, trong đó có 2 nhạc cụ hơi thổi, 3 nhạc cụ gõ; Tiểu nhạc gồm 5 nhạc cụ dây và 3 nhạc cụ hơi thổi. Đại nhạc chỉ sử dụng trong cung đình, chỉ có vua, những người trong hoàng tộc và các quan đại thần mới được dùng trong các đại lễ của triều đình; Tiểu nhạc thì người giàu kẻ nghèo đều có quyền dùng . [10]

Như vậy, âm nhạc trong cung thời Trần đã có thể chế, cơ cấu nhất định của nhạc lễ cung đình. Hai dàn Đại nhạc, Tiểu nhạc chắc hẵn là bóng dáng của hình thức Tọa tấu (ngồi đánh nhạc trên đường) và Lập tấu (đứng tế nhạc dưới đường) của thể chế Nhã nhạc Trung Hoa mà về sau, dưới thời  Lê Thái Tông (1434 - 1442) Lương Đăng đã phỏng theo nhạc lễ nhà Minh ở Trung Hoa mà đặt ra hai dàn nhạc là Đường thượng chi nhạcĐường hạ chi nhạc ?

Vài dòng sử liệu sau đây cho thấy sinh hoạt âm nhạc thời nhà Trần, tuy còn mang nhiều yếu tố chất phác của dân gian, như  đội mo nang cầm dùi làm tửu lệnh; vua cũng nhảy múa kiểu người Hồ... song không hẳn là không mang những nghi thức, nghi lễ cung đình, dáng dấp của thể chế nhạc trên đường và nhạc dưới đường : “khi yến hội ở điện Tập Hiền, trai tài gái sắc mỗi bên mười người đều ngồi dưới đất...mỗi lần có tiệc lớn, trên điện có nhạc nổi lên, nhạc khí và người ở dưới giải vũ, đều không thể thấy. Mỗi lần chuốc rượu thì lại hô lớn, nhạc cử lên, ở dưới lại giơ theo”...Sử gia còn ghi lại tên của bốn khúc nhạc đó là :

            1. Giáng hoàng long

            2. Nhập hoàng đô

            3. Án giao trì

            4. Nhất thanh phong

Chúng ta còn được biết thêm, bốn khúc nhạc này “âm điệu đều gần với cổ, nhưng lại êm ái. Nhà Trần cho như thế là văn minh. Khúc ca nhạc đó truyền đi, điệu nào điệu ấy đều có thể chế chứ chẳng phải từ nước Nguyên đem lại”...[11] (Trong sách Lịch sử Âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam. Viện Nghiên cứu Âm nhạc, 1996, Nhạc sĩ Nguyễn Viêm có chép là : Giáng châu long, Yến dao trì, khác với ĐVSKTB là Giáng hoàng long và Án giao trì).

Trong An Nam chí lược, Lê Tắc có kể tên năm bài hát sau :

1. Nam Thiên nhạc

2. Ngọc lâu xuân

3. Đạp thanh du

4. Mộng du tiên

5. Canh lậu trường [12]

Chúng tôi lại thấy trong Đại Việt Sử Ký Tiền Biên của Ngô Thì Sĩ có ghi tên 3  bài hát khác, trong một đoạn sử sau đây : “Xét chế độ nhạc vũ nhà Trần xướng xuất là vài chục người con trai đều cởi trần đóng khố, lượn vòng rồi hát, lúc đi một người giơ tay thì hơn chục người cùng giơ tay, buông tay cũng như vậy. Hát có :

                           Trang Chu mộng điệp,

                           Bạch Nhạc thiên mẫu biệt tử,

                          Vi Sinh Ngọc Túc,

                                  than thở thời thế thật đau thương”. [13]

            Không rõ 3 bài hát này có liên quan với hệ thống 5 bài mà An nam chí lược đã nêu không ? Nếu có, thì rõ ràng những bài hát chỉ có tên mà không có nhạc điệu còn lại dưới thời nhà Trần là 8 bài. Cùng với 4 khúc nhạc đã nêu ở trên, chúng ta đã có một nhạc mục 12 bài, gồm cả bài ca và điệu nhạc.

            Một đoạn sử liệu khác cho chúng ta biết có một loại nhạc lễ trong cung đình gọi là nhạc thái thường. Tên gọi này chỉ thấy tác giả Vũ trung tùy bút đề cập đến mãi dưới thời nhà Lê, nhưng là để gọi một  chức quan trông coi về Nhã nhạc : quan Thái thường, còn ở thời Trần là một thể loại nhạc lễ. Sử chép đoạn Đỗ Thiên Hư đang ốm nặng nhưng vẫn cố xin theo hầu vua đi đánh giặc :... “Thần thà chết ở ngoài cửa đình chứ không chịu chết nơi giường đệm. Thượng hoàng khen ngợi ý chí bèn cho theo. Vào đến đất của giặc thì mất. Thượng hoàng than thở thương tiếc ban sắc cho dùng nhạc thái thường để cúng tế (khi đó dùng nhạc thái thường) trong việc cúng tế chỉ có quan hành khiển được dùng, còn quan thẩm hình chỉ dùng lễ tế chay nội. Thiên Hư được dùng nhạc thái thường có lẽ là ân đặc biệt đấy. Sau Nguyễn Dũ mất cũng cho như vậy.” [14]

            Mặc dù không có tư liệu vang, hoặc các ký hiệu về âm thanh, cũng như lời của các bài hát, nhưng ít ra, cũng cho ta thấy một cách khái quát về âm nhạc trong cung đình thơi Trần. Đó là có sự định đặt về thể chế, tổ chức dàn nhạc và sự phân định rõ ràng hai thể loại Ca (nhạc có lời) và Nhạc (nhạc không lời).

 Xa hơn nữa, thời kỳ nhà Lý, sử sách đã cho biết sự am hiểu và yêu thích  âm nhạc của các ông vua, thể hiện trong việc định đặt số hậu phi và cung nữ dưới triều Lý Thái Tông (1028-1054): “hậu và phi 13 người, ngự nữ 18 người, nhạc kỹ 100 người.” [15] Đời vua Lý Thần Tông có đội ca múa Thượng lâm đệ tử. [16] Đặc biệt là sự say mê nhạc Champa của các vua Lý,  như việc đặt ra khúc nhạc gọi là Chiêm Thành âm; việc bắt kỹ nữ Chiêm về ca múa khúc Tây  Thiên v.v...

Gs Trần Văn Khê từ năm 1940 cũng đã phát hiện một dàn nhạc có 10 nhạc công với 9 nhạc cụ được chạm khắc trên bệ đá của chân cột chùa Vạn Phúc tỉnh Bắc Ninh, mà về sau ông xác định “có thể là dàn nhạc cung đình triều đại Lý”...Vấn đề này, sách Lịch sử Âm nhạc Việt Nam của Lê Mạnh Thát [17] căn cứ vào các sử liệu Trung Hoa và sử liệu Phật giáo cho rằng 9 nhạc cụ trên có thể xuất hiện trước thế kỷ thứ V. Tác giả còn đưa ra lý do rất thuyết phục về sự có mặt của chỉ 9 nhạc cụ ở chùa Vạn Phúc, trong khi vào thế kỷ V ở Việt Nam đã có nhạc cụ đồ kimđồ đá, mà tiêu biểu là trống đồng được ghi lại trong Hậu Hán thư khánh đá ghi ở Ngô chí cũng như Giao Châu ký. Có thể nói thêm, bằng những nguồn sử liệu quý báu, tác giả đã nhận định khác Gs. Trần Văn Khê về lịch sử Âm nhạc Việt Nam từ giai đoạn khởi nguyên đến thế kỷ thứ IX : “...giai đoạn từ khởi nguyên đến thế kỷ thứ IX, ông (TVK) cho rằng không có một tư liệu nào. Bây giờ cứ những trình bày trên của chúng tôi, ta không thể lặp lại kết luận ấy, bởi vì ta có khá nhiều “mẫu tin về âm nhạc” không những trên bệ đá chùa Vạn Phúc, mà còn trong những lá thư của Đạo Cao và những ghi chú của những người khác. Chúng ta biết sự có mặt của ca hát, ngâm vịnh, đọc tụng và tấu nhạc (nhạc bối) cũng như của những nhạc cụ đồ ống, đồ dây, đồ kim và đồ đá vào thế kỷ  thứ 5 tại nước ta”. [18]

Tuy nhiên, trên phương diện thể chế của Lễ nhạc, Gs. Tô Ngọc Thanh nhận xét : “Nhã nhạc với tư cách một điển chế thì phải đợi đến thời đại nhà Lê (1427-1788) mới hoàn thiện.” [19] Đó là sự kiện vua Lê Thái Tông, vào năm 1437 giao cho Nguyễn Trãi và Lương Đăng chế tạo nhạc cụ dùng trong Triều đình, nhưng sau đó Nguyễn Trãi dâng sớ tâu vua rằng : “Mấy lúc sau này, hạ thần và Lương Đăng có xem xét lại và quy định Nhã nhạc, nhưng ý kiến của thần và Lương Đăng về âm nhạc bất đồng. Thần xin được phép giao lại nhiệm vụ mà bệ hạ đã giao phó cho thần...” Vì thế, Nhã nhạc nhà Lê đều do một tay hoạn quan Lương Đăng phỏng theo quy chế nhạc triều nhà Minh để định đặt, mà hai dàn nhạc tiêu biểu là Đường thượng chi nhạc Đường hạ chi nhạc, 8 loại nhạc và 8 loại thanh âm...[20] Sự kiện thứ hai dưới thời Lê, theo Phạm Đình Hổ thì khoảng năm Hồng Đức (1470) có các quan đại thần như là ông Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh là bậc học vấn bác hợp...mới kê cứu âm nhạc nước Tàu, hiệp vào quốc âm ta, đặt ra hai bộ : Đồng văn và Nhã nhạc. Theo Phạm Đình Hổ thì bộ Đồng văn thời chuyên tập âm luật; bộ Nhã nhạc thời chuyên chuộng nhân thanh...nhã nhạc với tục nhạc không có hổn tạp với nhau...[21] Tác giả không bàn gì thêm về âm luật nhân thanh của hai bộ này. Chỉ biết rằng,  Đến năm Quang Hưng (1578)...bộ Đồng văn và Nhã nhạc, khi nào có lễ tế giao hay lễ triều hạ gì lớn mới dùng đến, cho nên các con cháu nhà nghề âm nhạc đều thất nghiệp cả... Theo tác giả, đến thời kỳ này, có nghĩa là trên 100 năm sau, nhạc lễ thời Hồng Đức đã thất truyền đi nhiều, đến nỗi mà tấu nhạc ở chốn triều miếu, thời chỉ là om xòm loạn bậy, không còn thành ra xoang điệu gì. [22]  Đồng văn Nhã nhạc đi đến chổ suy đồi, dàn nhạc Giáo phường (tục nhạc, đã phục hưng sau hơn 100 năm bị bài xích) thay thế cho Đồng văn và Nhã nhạc, trong cả những tế lễ trọng đại của triều đình như lễ Tế giao, Tế miếu và lễ triều hạ. Gs Trần Văn Khê cho biết, trong Lê triều hội điển, Đồng văn và Nhã nhạc luôn luôn được nhắc chung với nhau như là một dàn nhạc vừa có ca sinh...[23]

Từ thời Lê mạt, khi uy thế của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã vững mạnh, họ Nguyễn chính thức thành lập một vương quốc riêng, đối lập với Đàng Ngoài, tách khỏi vua Lê chúa Trịnh.

 Thời kỳ các chúa Nguyễn, âm nhạc trong dinh, phủ đã được quan tâm, nhưng cố nhiên không phải là Nhạc Lễ theo đúng nghĩa Nhã nhạc. Có thể, ngoài chức năng giải trí còn được sử dụng trong một số nghi thức, nghi lễ ngoại giao đơn thuần. Nhưng chí ít, cũng phải đến thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nghe theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc phong của vua Lê để chính thức lập ra nhà Chúa Nguyễn năm 1630, bắt đầu sự nghiệp bá vương cho dòng họ này.

***

Đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, Huế trở thành kinh đô của nước Việt Nam thống nhất, các triều vua Nguyễn mới đầy đủ tư cách để đặt nhạc lễ chính thức của triều đình. Dưới thời Gia Long (1802 - 1820) sử liệu không cho biết gì nhiều ngoài 2 đội Tiểu nam, Tiểu hầu chuyên trông coi về nhạcluyện tập múa hát, sau đó hợp nhất lại thành Việt tương đội vào năm Gia Long thứ 3 (1804). Còn Nhạc lễ thì mới thấy dưới thời Minh Mạng (1820 - 1840) khi giang sơn xã tắc đã tương đối ổn định thì việc lễ nghi trong triều đình mới được định đặt lại theo thể thức, quy chế chính thống của một nhà nước phong kiến.  

Trong khi các đời chúa Nguyễn có tư tưởng Phật giáo hóa đất nước, ( như muốn làm ngược trái với Lê - Trịnh ở Đàng Ngoài đang ra sức Tống Nho hóa ), thì từ thời Gia Long về sau, các vua Nguyễn lại sử dụng Nho giáo, triệt để Nho hóa để củng cố địa vị thống trị của dòng họ. Có thể nói, vua Gia Long và các triều vua sau Gia Long đã đẩy quá trình Tống Nho hóa lên tột đỉnh. Quá trình này bắt đầu từ thời Lý, phát triển mạnh mẽ vào thời Lê, đến vương triều Nguyễn thì hoàn tất.[24]

Xuất phát từ kinh điển và đạo lý Tống Nho, do vậy, thiết chế văn hóa của nhà Nguyễn, chỉ riêng trong lĩnh vực giáo dục (thi cử, chữ viết...), và nghệ thuật ( âm nhạc, mỹ thuật, văn học...), không thể không  bị ràng buộc bởi tư tưởng triết học Trung Hoa cổ.

Trong lĩnh vực âm nhạc, chi phối bởi quan điểm mỹ học giáo điều cổ đại Trung Hoa : Lễ là cái trật tự, Nhạc là cái điều hòa; Âm nhạc liên thông với chính sự; nghe nhạc có thể biết được sự thịnh suy của một nước (Thẩm nhạc dĩ tri chính)..Vì vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam nói chung và triều Nguyễn nói riêng, đã phải rất coi trọng nhạc lễ cung đình, vì nó là bộ mặt quốc gia, đại diện cho cả một vương triều.

Trong suốt thời kỳ triều Nguyễn trị vì (1802 - 1954), có thể nói, nhạc lễ cung đình đã được phục hưng và phát triển rực rỡ chưa từng thấy trong lịch sử âm nhạc cung đình của các triều đại phong kiến Việt Nam. Mặc dù chỉ là sự tiếp nối, kế thừa âm nhạc cung đình triều Lê, nhưng triều Nguyễn đã hoàn thiện và phát sinh, phát triển thêm nhiều loại thể mới, thể hiện ở sự phong phú  của các loại dàn nhạc và bài bản.

Sử liệu cho biết, vua Minh Mạng bàn với Phan Huy Thực, quan Hữu Tham tri bộ Lễ về việc Nhạc lễ : “Trẫm thấy là buổi đầu gây dựng, lễ nhạc còn thiếu, thường muốn sáng chế mà chưa nắm được cốt yếu...Nay tuy nhạc xưa đã bỏ mất, mà các đồ bát âm còn có thể khảo được. Nên tìm người hiểu âm nhạc, cùng bọn các ngươi chế tác”. [25]

Qua đấy, chúng ta thấy nhạc xưa thì đã bỏ mất, còn các đồ bát âm, tức là các nhạc cụ trong dàn nhạc lễ cung đình của các triều đại trước, thì cũng chỉ có thể khảo được mà thôi. Thế nhưng, tác giả Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề lại cho biết : Năm Gia Long thứ 15 (1816), trong lễ tấn phong Đông cung Thái tử  cho Hoàng tử Đảm, là vua Minh Mạng sau này, đã có nhã nhạc giàn bầy hai bên tả hữu thềm.[26] Như vậy, có gì mâu thuẩn với sử liệu nêu trên không ?

Chúng ta đã biết, từ năm Gia Long nguyên niên (1802), trong cung đã có 2 đội Tiểu nam, Tiểu hầu chuyên trách về nhạc và múa hát cung đình, với một biên chế gồm 2 Chánh ca trưởng, 6 Phó ca trưởng và 184 người lính.[27] Tổ chức âm nhạc này không thể không kế thừa  truyền thống nghệ thuật diễn xướng cung đình, đã  có nền móng ít ra cũng trên 170 năm, kể từ thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên với tổ chức Hòa Thanh thự. Chưa kể, cơ chế của đội Tiểu nam, Tiểu hầu này, có thể là vóc dáng quy chế Nhạc triều của 2 bô Đồng văn và Nhã nhạc triều Lê...Vậy thì, các tác giả Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam nói là đã có nhã nhạc giàn bầy hai bên tả hữu thềm trong lễ tấn phong Đông cung Thái tử vào năm Gia Long thứ 15, tưởng cũng không có gì là vô căn cứ, nếu hiểu theo nghĩa Nhã nhạc - dàn nhạc. Còn Nhã nhạc - nhạc lễ, thì thật là mới được định lại dưới thời Minh Mạng như  đoạn sử liệu đã nêu trên.

Đến đây, chúng tôi muốn chia sẻ ý kiến : Có một tên gọi Nhã nhạc để chỉ phần lớn các loại nhạc nghi thức, tế lễ cung đình. Nhưng cũng vì thế, mà không có nghĩa toàn bộ nhạc lễ cung đình đều là Nhã nhạc.[28]

Một nhà nghiên cứu âm nhạc cung đình người Triều Tiên (Kim Young-bong) có nêu ra ý kiến tương tự tại một cuộc hội thảo về Nhã nhạc ở Huế hồi tháng 4 năm1997. Chị cho rằng, nghĩa rộng của Nhã nhạc, Gagaku, AhAk (tên gọi thể loại này của 3 nước Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên) là bao hàm tất cả âm nhạc trong cung đình; còn nghĩa hẹp hơn, Nhã nhạc bao gồm chỉ một  số loại nhạc chính thức, gắn với nghi lễ, mà chúng được quyết định bởi cơ cấu, tính chất của dàn nhạc và nhạc cụ.

 Chẳng hạn trong Ga Gaku (Nhã nhạc Nhật Bản), chủ yếu là nhạc do 2 dàn nhạc trong cung đình là Kangen (gồm 8 loại nhạc cụ với 16 nhạc công diễn tấu) và Bugaku với 18 nhạc công với cơ cấu tổ chức thành 2 loại : Togaku (Đường nhạc), Bokkaigaku (Cao ly nhạc) cùng với múa...

Trong Ahak (Nhã nhạc Triều Tiên) và Nhã nhạc Việt Nam, Kim Young Bong chỉ nêu ra những loại thể chủ yếu mang tính tương đồng cao trong Nhã nhạc của hai nước như : Triều Tiên, có Bát âm, múa có Bát dật và 2 dàn Tung ga, Hon ga; Việt Nam cũng có Bát âm, Bát dật, và 2 dàn Đại nhạc, Tiểu nhạc... 

Vấn đề này, Gs. Tô Ngọc Thanh cũng đã bàn đến trong công trình Tư liệu Âm nhạc Cung đình Việt Nam, khi đề cập đến tính tương đồngdị biệt trong Nhã nhạc Việt Nam, Trung Hoa, Nhật Bản và Triều Tiên. Theo ông, để phục vụ cho đời sống trong cung đình, còn có một số loại nhạc như Yến nhạc, Nữ nhạc ở Việt Nam; nhạc giải trí như Togaku, Komagaku, các bài hát Imayo ở Nhật Bản v.v... Những loại nhạc này cũng là nhạc cung đình, nhưng không được gọi là Nhã nhạc... [29] Đặc biệt, Giáo sư đã nêu lên những quy định có tính điển chế, chuẩn mực mà Nhã nhạc được thể chế hoá để thực hiện chức năng cơ bản là lễ nhạc và nghi thức.

Một trong những chuẩn mực điển hình là “ việc trình diễn Nhã nhạc được giao cho hai loại dàn nhạc có biên chế và cơ cấu  nhạc cụ khác nhau như Đường thượng chi nhạcĐường hạ chi nhạc ở Trung Hoa và Việt Nam; TunggaHon’ga ở Triều Tiên”. Dàn nhạc với biên chế nhỏ, nhạc cụ chủ yếu là dây, hơi ngồi tấu ở trên thềm của cung điện; dàn nhạc biên chế lớn  gồm đủ các chủng loại nhạc cụ có âm lượng lớn như tất lật, biên chung, biên khánh và đại cổ thì đứng[30] tấu ở dưới thềm. Ở Việt Nam, bộ sử xưa nhất An nam chí lược đã có ghi lại vấn đề này ngay từ đới Trần qua một ghi chép cuộc đi sứ của Trương Lập Đạo sang An Nam năm 1291: “Đại nhạc tấu vu điện hạ, tế nhạc tấu vu điện thượng”,[31] và chắc là cả Nhã nhạc - Đại nhạc - Nhạc Huyền đời Nguyễn, và kể cả Đại nhạc - Tiểu nhạc cuối thời Nguyễn.

Một chuẩn mực khác, theo Gs. Tô Ngọc Thanh, trong các nghi lễ và lễ thức cung đình đều có múa theo những quy định nghiêm ngặt, được gọi là múa Văn, múa Võ ở Trung Hoa, múa Kinh vĩ lang và Chỉnh đốn lang ở Việt Nam, Munmu và Mumu ở Triều Tiên, và có lẽ hai loại múa “Bên Phải” và “Bên Trái” của Nhật Bản cũng có ý nghĩa tương tự...[32]

 Chúng ta biết rằng, Nhã nhạc của các nước đều tiếp thu từ Trung Hoa. Những cặp từ ngữ bổ sung hoặc đối lập thường sử dụng trong âm nhạc, nhất là âm nhạc cung đình các nước Á châu, đều bắt nguồn từ khái niệm Âm - Dương trong nhạc Trung Hoa. Văn - Võ hay Bắc - Nam, Trống - Mái, Tả - Hữu, Thượng - Hạ...đều mang ý nghĩa là những cặp đối lập. Vì thế, Kinh vĩ lang Chỉnh đốn lang trong âm nhạc cung đình Việt Nam thời nhà Hồ cũng c