Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc Việt

Đắc Tâm : Kỹ thuật sáng tác

 Nếu bạn viết nhạc vì bạn có điều gì đó muốn nói thì bạn hãy tự diễn tả đi. Hãy viết về những điều làm bạn xúc động, về những điều mà bạn nghĩ là quan trọng đối với bạn. Một ca khúc giống như một chuyến du hành, hãy dẫn người nghe đến những vùng mới lạ, tươi đẹp.

Kỹ thuật sáng tác (Bài 1)
07:28' 11/01/2007 (GMT+7)

Tựa


Một ca khúc đẹp và những âm thanh đẹp không phải xoè tay ra là nắm bắt được dễ dàng. Phải suy tư, chiêm nghiệm nhiều và điều quan trọng nhất là phải dám nói: “Hãy viết lại thôi!”

Những kỹ thuật và thủ pháp trình bày trong tập này được biên dịch chủ yếu từ trong sách giáo khoa âm nhạc: “Harmony and Melody – the diatonic part” (dày khoảng 300 trang) mà tôi mượn được từ một bạn đồng nghiệp từ cuối năm 1975 để học và đã chép tay lại những phần mà tôi thấy mới lạ đối với mình lúc bấy giờ nhưng lại quên không ghi tên tác giả quyển giáo khoa nhạc lý này.

Qua thời gian sinh hoạt với các bạn sáng tác ca khúc, tôi nhận thấy đa số các bạn, với số vốn kiến thức nhạc lý căn bản, thường viết theo cảm hứng, theo cảm xúc âm nhạc và theo những kinh nghiệm mà các bạn đã nghe và học được từ các bậc đàn anh nhạc sĩ nổi tiếng. Co’ cảm hứng và cảm xúc để viết tác phẩm chưa phải là đủ. Các bạn cần phải học nhiều hơn nữa về kỹ thuật và thủ pháp trong sáng tác và nhất là kỹ thuật hòa âm để hoàn thiện mình và để biết cách trau chuốt bằng “kỹ xảo âm thanh” cho tác phẩm của mình nét hơn.

Tuy nhiên, kỹ thuật vẫn là kỹ thuật vì ai cũng có thể thực hiện được nếu hiểu và nắm được nguyên lý. Nhưng trong âm nhạc thì cái “tôi” được phô bày rất rõ qua tác phẩm. Như vậy thì phong cách đóng vai trò chủ yếu trong ca khúc mà bạn viết ra. Ca khúc phải là của bạn, phải mang dấu ấn của chính bạn. Đừng tự giới hạn mình, đừng tự trói buộc, gò bó mình trong các qui định, luật lệ của nhạc lý. Hãy tự đặt ra các qui định cho mình. Hãy để cho sự sáng tạo tự do bay bổng. Và... hãy luôn nhìn lại các tác phẩm mà bạn đã viết ra, đã thả cho bay vào cuộc đời bằng cặp mắt và đôi tai của một người phân tích và phê bình khắc khe.

Rất mong những kỹ thuật và thủ pháp căn bản trong tập tài liệu này giúp được ít nhiều cho các bạn trên bước đường sáng tác.


Đắc Tâm
(tháng 7 năm 2004)

***

Bài 1

NHẠC VÀ KHÓA NHẠC

Âm nhạc là kết quả của sự rung chuyển đều đặn và nhịp nhàng của không khí.

Độ sâu (depth) hay độ cao (pitch) của tiếng nhạc được tạo nên bởi sự khác biệt trong tốc độ rung chuyển của không khí và còn được gọi là quãng.

Sự to mạnh hoặc dịu dàng của tiếng nhạc tùy thuộc vào kích thước (size), cường độ (amplitude) của những rung chuyển, còn được gọi là lực âm thanh (force of the sound).

Âm sắc (timbre) là phẩm chất của tiếng nhạc (quality), tùy thuộc vào bản chất của vật rung.

Sự chỉ dẫn khi viết nhạc gồm có:

– Nốt: để diễn tả thời gian
– Khung nhạc và khoá nhạc: để diễn tả quãng nhạc

Các Loại Khóa Nhạc:

Soạn: HA 1006107 gửi đến 996 để nhận ảnh này

 

Hiện nay, người ta gom lại chung 2 khóa Fa và Sol để viết cho giọng hát. Tuy nhiên, khi sử dụng khóa Do thì có thể bao gồm hết các giọng hát nằm trong đường kẻ mà không phải dùng đường kẻ phụ. Hơn nữa, khi sử dụng khóa Sol cho giọng tenor thì nốt được viết một bát độ cao hơn so với âm sắc thực tế:

Soạn: HA 1006109 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

KÝ HIỆU DÙNG TRONG ÂM NHẠC


Dấu hồi tống:

Soạn: HA 1006111 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Có nghĩa là: lặp lại đoạn nằm giữa hai dấu này. Nếu sự lặp lại bắt đầu từ đầu bài nhạc thì không cần phải ghi dấu hồi tống đầu.

Dấu D.C.: D.C. (da capo) có nghĩa là: trở lại từ đầu. Capo (La–tinh) = đầu

Dấu D.S.: D.S. (dal segno) có nghĩa là: trở lại nơi có dấu hiệu     .
Segno (La–Tinh) = dấu hiệu

Trong cả 2 trường hợp trên, sự lặp lại sẽ kéo dài cho đến khi có ký hiệu FINE (hết).

       (mắt ngỗng): nghỉ tùy thích.

Soạn: HA 1006113 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Đoạn nhạc này phải được đánh 1 bát độ cao hơn

                                          
                                          

8va bassa hoặc 8va sotto nằm dưới khung nhạc khóa Fa có nghĩa là đoạn nhạc đó phải được đánh 1 bát độ thấp hơn.

Con 8 (hoặc 8) nằm dưới nốt trầm nào có nghĩa là nốt trầm ấy cần phải được đánh cùng lúc với nốt đó ở 1 bát độ thấp hơn.

Dấu hiệu :

Soạn: HA 1006115 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

ghi trước hợp âm có nghĩa là hợp âm đó phải được rải đều từng nốt, bắt đầu từ nốt trầm.


Ký hiệu viết tắt cho nốt:

 
Soạn: HA 1006119 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 
 

nghĩa là 

Soạn: HA 1006123 gửi đến 996 để nhận ảnh này
Soạn: HA 1006125 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

nghĩa là 

Soạn: HA 1006127 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 


Khi được đánh thật nhanh sẽ trở thành tremolo.

Ký hiệu viết tắt cho nhóm nốt:

Soạn: HA 1006129 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 


 Liên hai (Couplet): nhóm 2 nốt có giá trị thời gian bằng 3 nốt có cùng tính chất.

Soạn: HA 1006131 gửi đến 996 để nhận ảnh này

liên 2

 

Liên ba (Triplet): nhóm 3 nốt có giá trị thời gian bằng 2 nốt có cùng tính chất.

Soạn: HA 1006133 gửi đến 996 để nhận ảnh này

liên 3

Liên bốn (Quadruplet): nhóm 4 nốt có giá trị thời gian bằng 6 nốt có cùng tính chất, thường gặp ở nhịp phức. Liên bốn đôi khi bị nhầm lẫn là nhóm 4 nốt có giá trị thời gian bằng nhóm 3 nốt có cùng tính chất.

Soạn: HA 1006135 gửi đến 996 để nhận ảnh này

liên 4


Liên năm (Quintuplet): nhóm 5 nốt có giá trị thời gian bằng 4 nốt có cùng tính chất.

Soạn: HA 1006137 gửi đến 996 để nhận ảnh này

liên 5


Liên sáu (Sextolet): nhóm 6 nốt có giá trị thời gian bằng 4 nốt có cùng tính chất.


 

Soạn: HA 1006139 gửi đến 996 để nhận ảnh này

liên 6

 



(Còn tiếp

 http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/noichuyensangtac/2007/01/652590/

 

 
document.all('IDM_Category_'.concat(1041)).style.display='';
Kỹ thuật sáng tác (Bài 2)
Đường cong giai điệu
09:08' 12/01/2007 (GMT+7)

I.ĐƯỜNG CONG GIAI ĐIỆU

Bài 1 : Bài 2

Đường cong giai điệu là đường di chuyển theo các nốt trong giai điệu. Có các loại đường cong giai điệu như sau:

1. Đường sóng (the wave):

Soạn: HA 1007091 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Các nốt nhạc di chuyển lên xuống dịu dàng như sóng lượn, không tạo ra đối nghịch. Đường sóng này có thể đạt tới nốt nhạc cao nhất nhiều lần nhưng không tạo ra đỉnh điểm, cao trào.

(Nguyễn Văn Đông: Đêm Đông)

Soạn: HA 1007093 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

2. Đường sóng có cao trào (the wave with climax):

Soạn: HA 1007095 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Cũng có thể gặp một giai điệu dịu dàng, sóng lượn, lang thang qua một vài ô nhịp rồi bỗng vươn lên nốt cao trào – con sóng giai điệu đã đạt tới đỉnh (đỉnh cao trào có thể là nốt cuối cùng trong câu nhạc hoặc tiếp theo đó giai điệu sẽ chuyển động thư thả hơn).

(Phạm Mạnh Cương: Thung Lũng Hồng)

 
Soạn: HA 1007107 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 
 

3. Đường sóng dâng cao (the rising wave):

Soạn: HA 1007111 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Đây là dạng sóng năng động nhất trong các dạng sóng. Giai điệu chuyển động lên rồi xuống rồi lại lên ở mức cao hơn trước, lại xuống rồi dâng lên ở mức cao hơn nữa để sau đó đạt đến nốt đỉnh rồi tuột xuống sau đó ngay tức thì.

4. Đường sóng đi xuống (the falling wave):

Soạn: HA 1007113 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

5. Cầu vồng (the arch):

Soạn: HA 1007119 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Một dạng cầu vồng khác đi lên và xuống theo dạng chuyển động sóng:

Soạn: HA 1007121 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

6. Đáy chén (the bowl):

Soạn: HA 1007123 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

7. Đường thẳng đi lên (the rising line):

Đường thẳng đi lên là hình thức đơn giản nhất của giai điệu. Vấn đề đặt ra là làm sao để không tạo ra cảm giác nhàm chán của thang âm đi lên nếu xếp nốt sau cao hơn nốt trước một bậc! Trong trường hợp này, mới thấy được ai là bậc thầy: Beethoven, Brahms và Chopin đã sáng tác nhiều giai điệu đặc sắc từ những nốt xếp theo đường thẳng đi lên.

8. Đường thẳng đi xuống (the falling line):

Cũng giống như đường thẳng đi lên, rất khó mà tránh cảm giác nhàm chán của thang âm đi xuống.

9. Đường thẳng ngang (the horizontal line):

Giai điệu theo đường thẳng ngang tạo cảm giác bất động, thường xuất hiện trong ca nhạc lễ nghi, thánh ca.

Thông thường một ca khúc gồm những đoạn giai điệu với nhiều dạng sóng và đường thẳng.

Đắc tâm

(Còn tiếp)

http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhacviet/2007/01/653064/ 

 

 
document.all('IDM_Category_'.concat(1041)).style.display='';
Kỹ thuật sáng tác (Bài 3)
Tiết nhịp
08:35' 16/01/2007 (GMT+7)

II. TIẾT NHỊP (Rhythm)

Bài 1 Bài 2  :  Bài 3


Tiết nhịp là phần không thể tách rời của giai điệu. Căn bản của mọi tiết nhịp là phách (beat). Phách là nhịp đập liên tục không đổi từ đó mà các mẫu tiết nhịp được phát triển. Nhịp (meter) là một mẫu các phách mạnh và nhẹ được lặp lại đều đặn.

Tiết nhịp mang 2 ý nghĩa trong âm nhạc: (1) nghĩa rộng, bao trùm mọi phương diện của thời gian và (2) nghĩa cụ thể, mô tả mẫu riêng biệt của giá trị thời gian. Nói cho rõ hơn nghĩa thứ 2 này, tiết nhịp có thể là một tập hợp của các nốt trắng, đen và có thể gồm có vài dấu lặng được sắp xếp theo một trật tự nào đó. Hoặc nó có thể giản đơn là 3 nốt mốc đơn và một nốt trắng:

Soạn: HA 1009941 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 


          : đoạn mở đầu bản “Giao Hưởng Số 5” của Beethoven

Nó có thể là mẫu của bài “Bài Không Tên Số 8” của Vũ Thành An:

Soạn: HA 1009947 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

“Jingle Bells” cũng là tiết nhịp: 

 
 
Soạn: HA 1009953 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Rất nhiều ca khúc và đoạn nhạc giao hưởng đã xác định được “lý lịch” của chúng chủ yếu qua iết nhịp. Thí dụ như thang âm D trưởng như thế này thì không thể gọi là giai điệu được:

Soạn: HA 1009957 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Nhưng khi tiết nhịp được thêm vào:

Soạn: HA 1009959 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

thì giai điệu xuất hiện:

(Handel: Joy To The World)

Soạn: HA 1009961 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Có nhiều loại tiết nhịp như sau:

1. Các Loại Tiết Nhịp Cân Đối:

1.1. Tiết nhịp lặp lại (repeated rhythm):

Hình thức căn bản nhất của mọi cấu trúc tiết nhịp là sự lặp lại giản đơn. Loại tiết nhịp thông thường này có thể bị xem là xoàng nhưng rất nhiều bậc thầy âm nhạc đã sử dụng thủ pháp này để mở đầu cho các tác phẩm bất hủ của mình.

Dưới đây là 2 thí dụ tiết nhịp lặp lại trong tác phẩm giao hưởng:

Soạn: HA 1009963 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

1.2. Lặp lại liên tục (insistent repetition):

Đôi khi câu nhạc hoặc một đoạn trong bài nhạc chỉ có một tiết nhịp được lặp đi lặp lại mãi. Sự lặp lại liên tục này được sử dụng trong 4 loại nhạc:

 – nhạc khiêu vũ

 – khi câu nhạc có đường cong giai điệu đẹp, việc lặp lại liên tục của tiết nhịp giúp tăng sức mạnh cho dòng giai điệu.

 – trong các tác phẩm có phần hòa âm đẹp, việc lặp lại tiết nhịp tăng thêm sức thu hút của âm nhạc.

 – trong các tác phẩm mang màu sắc réo gọi, ám ảnh, tiết nhịp lặp lại liên tục thường là yếu tố chánh.

Như vậy, việc lặp lại tiết nhịp giúp nhấn mạnh và tăng lực cho nhiều thể loại giai điệu. Muốn sử dụng thủ pháp này một cách tốt nhất là tiết nhịp phải thật rõ ràng, thu hút. Độ dài của tiết nhịp từ nửa ô nhịp cho đến 4 ô nhịp.

1.3. Tiết nhịp lặp lại có biến đổi (rhythm with varied repetition):

Âm nhạc sẽ bị chết cứng nếu mỗi câu nhạc đều có tiết nhịp y như nhau. Việc biến đổi tiết nhịp sẽ mang đến màu sắc mới.

(Debussy: String Quartet – Tứ Tấu Dây)

Soạn: HA 1009965 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

1.4. Tiết nhịp đôi lặp lại (double repeated rhythm):

Sự đa dạng sẽ phong phú thêm hơn khi kết hợp 2 mẫu tiết nhịp vào trong một câu nhạc. Thủ pháp này tạo ra dòng giai điệu dài, tiết nhịp đầu cần có thời gian để ổn định trước khi tiết nhịp thứ 2 xuất hiện. Nhìn chung, mỗi mẫu tiết nhịp được lặp lại ngay tức thì ít nhất một lần: a, a’, b, b’. Sự lặp lại có thể là y mẫu hoặc có biến đổi.

(Bach: Brandenburg Concerto, No.2)

Soạn: HA 1009971 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 


2. Các Loại Tiết Nhịp Không Cân Đối:

2.1. Thay đổi nhịp (changing meter):

Sự thay đổi nhịp là câu trả lời của thế kỷ 20 về điều được mô tả là “sự bạo tàn của vạch ô nhịp” (“the tyranny of the bar line”). Sau khi đã sáng tạo ra vạch ô nhịp để cho việc viết nhạc được dễ dàng hơn, các nhạc sĩ của thế kỷ 17 xem vạch ô nhịp là định luật tự nhiên. Việc hứng khởi do việc tìm ra được cách hòa âm mới với khuôn mẫu cân bốn (four–square pattern) đã khiến các nhà soạn nhạc thời Baroque gạt qua một bên những tiết nhịp uyển chuyển của thời Phục Hưng. Một khi đã bắt đầu bằng một nhịp nào đó, nhà soạn nhạc bị bắt buộc phải giữ nhịp này không đổi cho đến hết chương hoặc cho đến khi một nhịp khác được thay thế vào theo đúng qui tắc. Nhịp cố định cân phương đã thống trị âm nhạc phương Tây suốt gần 300 năm.


Thế kỷ 20 đã mở cửa âm nhạc vào con đường tiết nhịp mới. Nhưng tiền bối của nhiều nhà cải cách hiện đại lại là nhà soạn nhạc thể kỷ 19, Modeste Moussorgsky. Dựa vào tiết nhịp dân ca Nga để làm điểm bắt đầu của mình, Moussorgsky đã rất mạnh dạn sử dụng các loại nhịp khác nhau. Chẳng hạn như tác phẩm “Những Hình Ảnh Tại Buổi Triển Lãm” (“Pictures at an Exhibition”), soạn năm 1870, bắt đầu bằng sự pha trộn giữa nhịp 5/4 và 6/4.

Một trong những người kế tục Moussorgsky, nhà soạn nhạc trẻ Stravinsky đã tiếp nối sư phụ mình trên rất nhiều mặt bằng cách phát triển việc thay đổi nhịp thành một nghệ thuật phức tạp.

2.2. Tiết nhịp tự do (free–flowing rhythm):

Phần lớn âm nhạc thời Trung Cổ, Phục Hưng và âm nhạc Phương Đông là nhạc có tiết nhịp tự do. Dù cân đối hay không, âm nhạc thời này không có sự sao y trong tiết nhịp. Nhiều tác phẩm của Josquin des Prés, Okheghem, Palestrina cùng những người đương thời nghe như lơ lửng trong không gian, không có sự lặp lại.

Với sự phát triển của nhịp và hòa âm, tiết nhịp tự do phải nhường bước cho tiết nhịp lặp lại. Vạch ô nhịp, hợp âm khối và các biến đổi trong hòa âm đã khiến cho việc viết giai điệu với tiết nhịp tự do khó khăn hơn. Tuy nhiên, truyền thống này không hoàn toàn bị mất. Đôi khi nhà soạn nhạc vẫn còn nhớ đến những khả năng lững lờ của các tiết nhịp tự do. Và trong thế kỷ 20, các tiết nhịp tự do được sử dụng rộng rãi trở lại một lần nữa.

2.3. Đa tiết nhịp (polyrhythm):

Đa tiết nhịp là tên gọi sai. Phải gọi đúng hơn là đa nhịp (polymeter) vì nó mô tả rõ ràng cách mà âm nhạc đa nhịp thể hiện:  một nhịp này nằm trên một nhịp khác. Vì trọng âm của phách sẽ không trùng nhau nên sự chói tai là điều không tránh khỏi, chẳng hạn như nhịp 4 phách nằm trên nhịp 3 phách như thí dụ dưới đây mà ta có thể gọi là một nhịp hành khúc vang lên trên nhịp điệu valse:

Soạn: HA 1009977 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Rõ ràng là phách 1-2-3-4 của nhịp hành khúc không ăn với phách 1-2-3 của nhịp valse gây ra sự chỏi nhau về trọng âm.

2.4. Tiết nhịp không nhịp (non–metric rhythm):

Tiết nhịp cuối cùng này bỏ qua không những vạch ô nhịp mà cả trọng âm trong nhịp cân phương. Loại nhạc không nhịp này thoát ly ra khỏi sự cụ thể của thể chất. Nó làm cho tư tưởng lơ lửng trong một thế giới không có bước nhịp vũ nhạc, không có chuyển động, không có bất kỳ hành động thể chất nào.

Loại tiết nhịp này phát sinh từ việc đưa âm nhạc vào văn xuôi, vào kinh kệ. Những đoạn hát nói trong các vở opera thường mang đến hiệu quả đầy kịch tính qua việc nhấn nhá không tiết nhịp vì phụ thuộc vào sự tinh tế của câu chữ.

Đắc Tâm

(Còn tiếp)

http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhacviet/2007/01/654156/ 

 

Kỹ thuật sáng tác (Bài 4)
Đặc tính diễn đạt của các quãng giai điệu
07:08' 17/01/2007 (GMT+7)

III. ĐẶC TÍNH DIỄN ĐẠT
CỦA CÁC QUÃNG GIAI ĐIỆU

Bài 1 Bài 2  :  Bài 3  : Bài 4


Trong âm nhạc phương Tây, từ thời Trung Cổ cho đến hiện nay, các quãng nhạc được dùng để truyền đạt cảm xúc. Các quãng tăng và giảm chủ yếu được dành để diễn tả những lúc căng thẳng hoặc kịch tính.

Đặc tính diễn đạt của các quãng thay đổi theo kích cỡ của quãng. Như vậy thì quãng 2, quãng nhỏ nhất và quen thuộc nhất trong tất cả các quãng là tinh chất của dòng nhạc dịu dàng chảy. Trong các câu nhạc dịu dàng, quãng 2 T (trưởng) và 2t (thứ) được sử dụng chen lẫn nhau.

(Nguyễn Văn Thương: Đêm Đông)

Soạn: HA 1010949 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

(Lê Hựu Hà: Phiên Khúc Mùa Đông)

Soạn: HA 1010951 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Khi quãng 2 thứ được sử dụng tiếp nối nhau (tạo ra chuyển động chromatic hoặc còn được gọi là chuyển động nửa cung), sẽ tạo ra cảm giác căng thằng, kích thích.

(Bizet: Habanera, nhạc kịch Carmen)

Soạn: HA 1010953 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Khi quãng 2 trưởng xuất hiện tiếp nối nhau, nghe như âm giai của các nốt một cung đang bồng bềnh và được các nhà soạn nhạc phái Ấn Tượng sử dụng trong một thời gian tương đối ngắn vào đầu thập niên 1900.

(Debussy: Voiles, Preludes For Piano, Cuốn 1)

Soạn: HA 1010955 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Quãng 3 trưởng và thứ, ngoài vai trò quen thuộc của chúng trong việc hình thành giai điệu, còn là những thành tố căn bản trong việc lập thành hợp âm.

(Hoàng Quý: Cô Láng Giềng)

Soạn: HA 1010957 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Quãng 4 và 5 đúng thường diễn tả cảm xúc cứng rắn, mạnh mẽ. Chúng là những quãng căn bản cho kèn cor, trumpet, bộ đồng và được quen dùng trong các tác phẩm săn bắn và quân nhạc. Quãng 4 và 5 còn được dùng trong anh hùng ca và chiến nhạc.

(Lê Thương: Hòn Vọng Phu I)

Soạn: HA 1010959 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Quãng 4 đúng giúp nâng cao thêm tính chất của quốc ca, như thí dụ bài quốc ca Pháp “La Marseillaise” sau đây:

(La Marseillaise)

Soạn: HA 1010961 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Quãng 5 có thể được sử dụng để diễn tả nhiều tâm trạng khác nhau như: kích thích, quyến rũ, lạ thường.

(Văn Cao: Buồn Tàn Thu)

Soạn: HA 1010963 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Quãng 6 trưởng và thứ, đặc biệt ở thể đi lên, tạo cảm giác vươn lên hoặc thành đạt. Quãng 6 trưởng thường được dùng để diễn tả nhiều tâm trạng tình ái, từ sự cảm xúc thơ ngây cho đến cảm xúc mơ mộng ái ân.

Khi quãng 6 trưởng được giảm nửa cung để trở thành quãng 6 thứ, các cảm xúc tình ái trở nên mờ tối và đậm màu sắc hơn.

(Cung Tiến: Thu Vàng)

Soạn: HA 1010965 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Đã có một thời rất lâu, quãng 7 được xem là quãng khó hát và được liệt vào loại quãng “cấm sử dụng”. Phải đến thời cận Baroque, quãng 7 mới được mở cửa và đến thời Lãng Mạn, nó mới được trở thành ưa chuộng trong việc diễn tả cảm xúc thầm thì. Chính vì sự thiếu hụt nửa cung để có thể trở thành quãng 8 trọn vẹn, nên quãng 7 là quãng đầy ngạc nhiên và có lẽ cũng là quãng khó chịu.

(Đoàn Chuẩn–Từ Linh: Tà Áo Xanh).

Soạn: HA 1010967 gửi đến 996 để nhận ảnh này
 

Đắc Tâm

(Còn tiếp)

http://www.giaidieuxanh.vietnamnet.vn/nhacviet/2007/01/654577/ 

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 22050244