Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Du ký TQH

Trần Quang Hải : Hội Nghị ICTM tại Sheffield (Anh quốc), phần 1

 
Lần này tôi đi tham dự hội nghị ICTM được tổ chức lần thứ 38 tại thành phố Sheffield (Anh quốc) do trường đại học Sheffield (University of Sheffield) tổ chức . TS Jonathan Stock, giáo sư dân tộc nhạc học của trường đại học này đứng ra tổ chức

 
 

Hội nghị ICTM tại Sheffield (Anh Quốc)
2 tới 11 tháng 8, 2005


Limeil Brévannes thứ ba 2 tháng 8, 2005



Lần này tôi đi tham dự hội nghị ICTM được tổ chức lần thứ 38 tại thành phố Sheffield (Anh quốc) do trường đại học Sheffield (University of Sheffield) tổ chức . TS Jonathan Stock, giáo sư dân tộc nhạc học của trường đại học này đứng ra tổ chức

Chương trình hội thảo từ 3 tới 10 tháng 8, 2005 . Tôi tham dự với những tiết mục sau đây :

1. Tham luận với đề tài : 30 năm nhạc di tản Việt Nam (30 Years of Exiled Music)

2. Chủ tọa một hội thảo về hiện trạng nghiên cứu nhạc tại Việt Nam . Có hai nhà nghiên cứu Việt Nam tham dự : TS Lê Văn Toàn trình bày về “Nghệ thuật trình diễn về Trò Thiếp và Múa Đèn ở Thanh Hóa”, và nghiên cứu viên Nguyễn Thị Minh Châu nói về “ Làm thế nào để phục hưng Hò Sông Mã”

3. Giới thiệu DVD “Le chant diphonique” (Hát đồng song thanh) do tôi là đồng tác giả với Luc Souvet, một cuốn phim do trung tâm nghiên cứu sư phạm của đảo La Réunion thực hiện về cách dạy hát đồng song thanh cho học sinh trung học với sự cộng tác của một ban tứ ca Huun Huur Tu nổi tiếng của xứ Tuva.

Lần đầu tiên tôi chuẩn bị bài tham luận bằng phương pháp Power Point trong vi tính để thử xem kết quả ra sao . Mỗi bài tham luận chỉ có 20 phút trình bày và 10 phút thảo luận . Ngoài ra tôi có đút đơn ứng cử làm thành viên của ủy ban chấp hành của hội ICTM (member of the Executive Board of the ICTM), đại diện cho xứ Pháp .

Chuẩn bị chuyến đi này đòi hỏi nhiều thì giờ thu xếp công việc . Nào là phải xin tiền trợ giúp của nơi tôi làm việc, đề nghị bài tham luận để có thể tham dự tích cực . Phải có bài tham luận thì mới được trợ cấp . Không ngờ tôi đề nghị ba chuyện và cả ba đều được chấp nhận . Thông thường mỗi người chỉ được tham dự với một đề tài thôi . Âu cũng là cái may cho riêng tôi .

Riêng lần này tôi bảo trợ toàn diện cho em gái của tôi (chúng tôi nhận làm anh em kết nghĩa) Nguyễn Thị Minh Châu để có them một nghiên cứu gia của Việt Nam có mặt tại hội nghị quốc tế này . Minh Châu là một nhà nghiên cứu về nhạc mới, viết nhiều bài về tiểu sử các nhạc sĩ ở Việt Nam và chuyên về mặt phê bình âm nhạc mới . Em đã chiếm nhiều giải thưởng trong những năm qua với những bài viết rất nghiêm túc . Em đã cho tôi một ấn tượng tốt về khả năng nghiên cứu cũng như sức làm việc trong địa hạt âm nhạc . Tuy không có dịp quen biết em . Nhưng qua những bài viết mà tôi có dịp đọc qua, em quả đúng là người tôi cần giới thiệu với các nhà nghiên cưú ngoại quốc với hy vọng là em sẽ tiếp nối việc tôi làm ở hải ngoại trong tương lai , vì em có thể là đại diện thế hệ trẻ trong địa hạt nghiên cứu nhạc dân tộc . (có thể xem những bài viết của em trên www.tranqhai.com , phần tiếng Việt) .

Sáng sớm thứ ba 2 tháng 8 tôi đã thức dậy từ 4 giờ sáng để coi lại một lần chót những gì phải mang theo.

6giờ10, Bạch Yến chở tôi ra nhà ga Villeneuve Saint Georges , cách nhà chừng 4km để tôi lấy xe lửa trực tiếp đi tới nhà ga Gare du Nord vì tôi lấy xe lửa tốc hành (Eurostar) để đi sang Anh quốc .

6giờ35, tôi tới ga Gare du Nord, vào hải quan rất mau . Vào bên trong tôi ghé lại chỗ bán dầu thơm không thuế mua một chai dầu thơm hiệu JOOP , mùi rất hạp với tôi , giá 45 Euros (đó là giá đã bớt 20%), chứa 125ml

6giờ 50, tôi đi lên xe lửa Eurostar, ngồi ở toa 14 , số ghế 63 .

7giờ 16, xe lửa khởi sự chạy . Loại xe lửa này chạy rất mau , có thể lên tới hơn 300 km/giờ . Xe này gọi là TGV (Train à Grande Vitesse – Xe lửa với tốc độ cao) . Từ hơn 10 năm nay, Pháp và Anh đã ký hợp đồng làm đưòng xe lửa xuyên biển Manche (Channel), dưới lòng biển chỉ mất có 25 phút là xuyên biển Manche . Ngồi trong xe lửa không có cảm giác gì lạ cả, êm ru và rất dễ chịu . Từ Paris tới Luân Đôn, xe lửa chạy mất 2 giờ 40 phút .
8giờ 55, xe lửa tới nhà ga Waterloo . Rất đúng giờ . Tôi đi ra khỏi hải quan , không có xét gì hết . Tôi đi đổi tiền Euros và Anh kim (tiếng Việt bây giờ gọi là « Bảng ») vì xứ Anh mặc dù ở trong khối thị trường Âu châu nhưng không chịu chuyển tiền Anh ra Euros như Pháp, Đức, Hà Lan, Bỉ, Ý, Tây ban nha, Bồ đào nha, Phần Lan, Lục Xâm Bảo.

Tôi mua keo dán những giấy , hóa đơn của những gì tôi tiêu xài vào một cuốn tập để có thể nhớ lại những gì tôi đã xài trong thời gian ở Anh lần này . Mỗi chuyến đi ra xứ ngoài tôi đều làm một cuốn tập như vậy như là một quyển nhựt ký với đầy đủ tài liệu chính xác . Đúng là méo mó nghề nghiệp !

Sau đó, tôi đi lại chỗ bán vé xe điện ngầm (bên Anh gọi là « underground » hay « tube ») để đi ra phi trường Heathrow đón hai em Lê Văn Toàn và Minh Châu từ Việt Nam ghé Paris trước khi lấy máy bay Air France sang Luân Đôn . Giá vé một bận là 3,80 Bảng, phiả đổi xe điện ngầm ở trạm Embankment (đường Northern Line). Từ trạm Waterloo tôi chỉ đi có một trạm là tới trạm Embankment . Tôi đổi sang đường xanh cây (green line hay District line) đi tới trạm Hammersmith . Rồi lại đổi them một lần nữa lấy đường Piccadilly line để đi tới trạm Heathrow . Tất cả những cuộc đổi trạm mất tất cả là 1 giờ đồng hồ .

11giờ, tôi tới phi trường, hỏi thăm mới biết là máy bay hãng Air France đáp xuống phi trường Heathrow 2. Tôi phải đi bộ , vừa kéo cái va-li khá nặng . Mất hơn 20 phút mới tới phi trường Heathrow 2 . Phải biết rằng phi trường Heathrow có 4 nhánh . Từ Heathrow 1,2,3 muốn đi qua Heathrow 4 phải lấy xe buýt của phi trường chở đi chứ không thể đi bộ . Trong khi chờ đợi, tôi vào khu hút thuốc để “kéo” vài điếu . Ngồi bên cạnh tôi có một anh người Ý sống ở Manchester (Anh quốc) . Tôi bắt đầu khơi chuyện với anh ta và biết thêm về đời sống người Ý ở trên đất Anh quốc .

12giờ 10 tôi khát nước , tìm mua một ly cà phê sữa (medium latte) ở quán Costa Coffee giá 1,99 bảng. Thời giờ trôi qua cũng khá nhanh . Tôi có nhờ một du khách chụp tôi đang ngồi uống cà phê tại đây .

14 giờ, Toàn và Minh Châu từ bên trong hải quan bước ra với chiếc xe đẩy hành lý . Hai người đang rảo mắt nhìn kiếm tôi, thấy cỏ vẻ âu lo . Tới chừng thấy tôi đang đứng đợi , thì cả hai reo lên :

- “Anh Hải !”

Hai tiếng “Anh Hải” vang dậy trong gian phòng đầy cả người , bày tỏ sự vui sướng của hai người như vừa khám phá một kho tàng quí báu, như người sắp bị chết đuối có được cái phao .

Chúng tôi ôm nhau , tay bắt mặt mừng . Thế là đoạn đường đầu của chuyến đi đã thành công . Tôi liền xách máy chụp vài tấm hình kỷ niệm . Tôi có gặp Toàn hồi năm 2004 tại Trung quốc nhân kỳ hội nghị ICTM tại Phú Châu . Còn Minh Châu tuy có gặp tại Hà nội năm 2002 nhưng tôi không nhớ mặt mũi Minh Châu ra sao . Ai ngờ Minh Châu dáng người nhỏ bé nhưng sắc diện tươi đẹp như đóa hoa mai đầu xuân.

Sau đó cả ba đi lấy xe điện ngầm để vào Luân Đôn vì phi trường Heathrow nằm ở ngoại ô thủ đô . Tôi mua 3 vé đi xe điện giá 6 bảng có thể đi suốt cả ngày mà không phải trả thêm . Nếu mua vé một bận thì giá là 3,20 bảng . Tôi đưa Minh Châu và Toàn đi vô phố Tàu (Chinatown, ở khu Soho, Piccadilly) để ăn cơm . Phải đổi tàu hai lần ở trạm Hammersmith và Embankment . Xuống ở trạm Leicester Square. Tới khu phố tàu chụp một số hình lưu niệm, chúng tôi vào một quán cơm nhỏ. Tôi ăn một tô hủ tiếu vịt quay. Minh Châu thích ăn cháo nóng với vịt quay và gà . Còn Toàn thì lựa món cháo với cật heo . Uống trà nóng . Tất cả tiền ăn là 15,20 bảng Anh .

Sau đó đi mua bánh giò chá quảy, bánh cam, bánh đậu đỏ, bánh hạt sen để mang theo đi đường vì phải đi từ Luân Đôn tới Sheffield mất trên 2 giờ30 phút .

Trở lại trạm Leicester square để lấy xe điện ngầm đi tới trạm Euston, rồi đổi đi tới trạm Saint Pancras . Trạm này cách đây vài tuần là nơi xảy ra vụ nổ bom làm chết rất nhiều người .

18giờ chúng tôi tới nơi sớm , ngồi chờ xe lửa để đi Sheffield . Trong khi chờ đợi, Toàn và tôi uống bia đen Guinness, một loại bia khá nặng của xứ Ái nhĩ lan. Minh Châu chỉ uống nước suối Vittel của Pháp .

19giờ 05, cả ba lên xe lửa , toa xe chữ E, ngồi ghế số 48, 49, và 50 . Xe này đi tới thành phố Leeds, nhưng có ghé tỉnh Sheffield .

19giờ 25, xe lửa khởi hành đúng giờ . Ai cũng mệt đừ . Tôi thích nói chuyện, hỏi thăm tin tức sinh hoạt bên Việt Nam . Nhưng một lúc sau, tôi mệt , thiêm thiếp ngủ hồi nào không hay . Toàn và Minh Châu cũng “thả hồn” vào giấc mộng để lấy lại sức .

21giờ 47 xe lửa tới Sheffield . Chúng tôi hỏi thăm bến xe buýt để đi lại khu cư xá đại học . Tới bến xe, đứng chờ tại cỏng số D6, lấy xe buýt số 60. Trong khi chờ xe , tình cờ có một anh người Thụy Điển , xách đàn vĩ cầm, có vẻ là người đi dự hội nghị như chúng tôi. Tôi liền tới hỏi thăm thì biết là anh là sinh viên đang làm luận án tiến sĩ tới dự hội nghị chứ không có bài tham luận . Anh tên là Jonas Lileström . Tôi biểu diễn cho anh ta nghe kỹ thuật hát đồng song thanh làm anh ta trố mắt than phục . Đi tới nơi nào tôi cũng gây thiện cảm bằng cách hát đồng song thanh . Nhờ vậy mà tôi dễ tạo sợi dây thiện cảm với mọi người .

22giờ 20 xe buýt tới . Chúng tôi lên xe , trả 1,30 bảng cho mỗi vé . Mãi lo nói chuyện, xe buýt chạy lố hai trạm , qua khỏi khu cư xá đại học . Chúng tôi xuống xe , đi ngược trở lại . Đêm khuya, ở một nơi lạ, không có ai đi ngoài đường để hỏi thăm đường xá . Tôi thấy có một cư xá có vẻ là cư xá đại học , tôi liền lần mò đi vô nhưng không sao liên lạc với ai vì tất cả cửa đều khóa lại hết .

Trong khi đang lo không biết phải làm thế nào , thì tôi thấy có một chiếc xe taxi đang chạy tới. Tôi giơ tay ngoắc anh tài xế để hỏi thăm đường . Anh ta người Ấn độ, chỉ cho tôi là phải đi thêm một khoảng đường nữa rồi quẹo tay trái , đi thêm vài trăm thước thì tới nơi . Tôi cám ơn ông ta rồi chúng tôi lặng lẽ lê bước đi . Đâu chừng một phút sau, chiếc xe taxi với ông tài xế người Ấn độ ngừng cạnh bên tôi và nói với tôi là ông sẽ chở chúng tôi tới cư xá Ranmour House . Tôi liền đồng ý , leo lên xe , để tất cả hành lý vào . Suốt cả ngày lang thang ngoài đường , giờ ngồi trên xe taxi để đi tới nơi hội nghị thì còn gì khỏe cho bằng . Tôi có cho ban tổ chức biết là chúng tôi sẽ tới Sheffield vào khoảng 23 giờ và nhờ ban tổ chức thong báo cho ông gát dan giữ cửa chờ chúng tôi trước khi khóa cửa đi ngủ .
Vài phút sau taxi chở chúng tôi tới cửa cư xá . Tôi hỏi ông tài xế phải trả bao nhiêu, ông ta lắc đầu nói là hoàn toàn miễn phí . Tôi cám ơn ông xong, nhận thấy người Ấn có long nhân, giúp đỡ tôi đang gặp khó khăn . Đúng là tôi có quế nhân phò hộ . Đi đâu cũng gặp người giúp đỡ .

Vào bên trong, gặp ông gát dan (tên là Chris) chào hỏi . Ông nhìn vào danh sách những người đến trọ, thấy có đủ ba tên chúng tôi . Minh Châu ngủ bên phụ nữ . Toàn và tôi ngủ bên phía nam giới . Tôi ở phòng 8F4 , cạnh bên phòng anh Tô Ngọc Thanh (thật là một sự ngẫu nhiên không tính trước). Đây là khu phòng ngủ dành cho sinh viên của đại học Sheffield . Lúc này còn đang nghỉ hè, sinh viên không có ở nên các phòng được dành cho những người tham dự hội nghị tới ở .
Phòng rất nhỏ chỉ có một bàn viết, và một cái giường 90cm bề ngang cho một người . Phòng tắm, phòng vệ sinh đều nằm bên ngoài chung cho cả chục căn phòng ở cùng một dãy nhà .

Sau khi thu xếp hành lý và tắm rửa xong xuôi , tôi đi ngủ . Vậy là xong một ngày đầu tiên cho cuộc hành trình cả một ngày .

Sheffield thứ tư 3 tháng 8, 2005
(hình có thể xem ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=632 )

7giờ30 tôi thức dậy, chuẩn bị đi ăn điểm tâm . Hẹn nhau lúc 8 giờ tại phòng ăn . Tôi gặp những người trong ban chấp hành, ôm nhau chào hỏi vì những người dự hội nghị chỉ tới buổi trưa . Chúng tôi tới sớm một ngày vì Toàn và Minh Châu từ Việt Nam sang phải tới sớm hơn để kịp lúc khai mạc đại hội vào buổi xế trưa .

Gặp anh Tô Ngọc Thanh đang ngồi ăn một mình . Cả ba chúng tôi tới chào người anh cả . Anh Thanh tới Sheffield trưa thứ ba từ Manchester . Anh đi từ Hà nội , sang Singapore, rồi đi Manchester . Sau đó lấy xe lửa tới Sheffield . Toàn và Minh Châu thì đi ngã khác , từ Hà nội, vào Saigon, rồi đi sang Paris (Pháp) , rồi sang Luân Đôn gặp tôi để đi tới Sheffield .

Bữa ăn lót lòng theo kiểu Anh gồm có thịt heo ba chỉ chiên (bacon), trứng gà đánh lên (scrumbled egg), trứng chiên ốp-la (fried egg), giò (sausage), đậu (beans), cà chua (tomato), bánh mì chiên, bánh mì nướng (toast), trái cây ( táo, cam, chuối), yoghurt, bơ, mứt, sữa, cà phê, trà, số cô la (chocolate) . Nếu ăn tất cả thì no cành hông . Dù vậy ai cũng ăn thật nhiều để dằn bụng cho tới trưa .

9giờ, anh Thanh phải đi dự hội thảo của ban chấp hành ICTM vì anh ấy là hội viên của ban chấp hành (member of the executive board) .

Chúng tôi được rãnh tới 16 giờ . Thừa dịp này, tôi đề nghị với Toàn và Minh Châu đi vào thành phố Sheffield, tham quan một vòng cho biết .

Lấy xe buýt tới trung tâm thành phố, đi tìm một siêu thị để mua hai đôi dép cho anh Thanh và Minh Châu vì cả hai không có mang dép theo . Tôi tìm tiệm siêu thị Mark and Spencer là nơi bán đồ đạc với giá rẻ . Nhưng đi một vòng không thấy loại dép lê của Nhựt mà chỉ có dép Anh giá khá đắc . Chúng tôi đi rảo bước kiếm , hy vọng sẽ tìm được nơi bán rẻ . Tình cớ đi ngang một tiệm đang quảng cáo bán giày , mua một đôi , thì đôi thứ nhì chỉ trả 1 bảng Anh . Tôi thấy có bán dép lê kiểu Nhựt giá hạ chỉ có 4,99 bảng Anh một đôi . Nhưng tìm số thiệt nhỏ (cỡ số 35) thì rất là hiếm , vì chân của người Anh rất to . Đàn bà Anh thường có chân số 37 là nhỏ nhất cho tới số 41; Còn đàn ông thì phải số 39 tới 47. Chân của anh Thanh số 35, và chân của Minh Châu cũng số 35 . Sau khi tìm kiếm trong kho giày của tiệm , may thay còn hai đôi dép số 36 . Tôi nghĩ là có thể mang tạm trong thời gian ở đây . Tôi đồng ý mua hai đôi đó màu tím Huế đẹp lắm . Giá cho hai đôi là 5,99 bảng Anh , thật là rẻ vì chỉ bằng có nửa giá tiền của một đôi dép bình thường ở trong một tiệm khác .

Tôi mới rủ Toàn và Minh Châu lấy xe tram đi một vòng thành phố . Vé xe giá 2,50 bảng được đi suốt cả ngày, bao nhiêu lần cũng được . Chúng tôi ngồi trên xe tram chạy cho tới cuối trạm (ở ngoại ô tỉnh Sheffield ) rồi đi ngược trở lại , mất tất cả là 1 giờ ngồi trên xe .

12 giờ, chúng tôi lấy xe buýt trở về cư xá Mansour House, lấy hồ sơ, ghi danh và trả tiền phòng phụ trội của đêm hôm qua ngủ tại đây vì đêm đó không nằm trong số tiền đã trả khi ghi tên dự hội nghị . Gặp một số bạn đồng nghiệp nơi đây vừa tới nơi , chào hỏi lung tung .

Sau khi uống cà phê , ăn bánh ngọt, tôi trở về phòng , xem một số VCD của Viện âm nhạc gởi tặng tôi do Toàn và Minh Châu mang sang .

15giờ , Minh Châu tới phòng tôi để nhờ tôi kiểm lại cách phát âm tiếng Anh bài tham luận , cùng với việc đo thời giờ . Mỗi bài tham luận chỉ được quyền có 20 phút , không được dài hơn và phải dành 10 phút cho phần thảo luận . Tôi là người điều khiển bàn tròn về đề tài Việt Nam mà Toàn và Minh Châu là hai người có bài tham luận .
Tôi rất ngạc nhiên là Minh Châu không nói được tiếng Anh nhưng phát âm rất đúng , và đọc rõ ràng , nghe hiểu hết , chỉ sai một vài chữ . Bài của Minh Châu là về hò song Mã, vừa đọc vừa cho xem phim tổng cộng khoảng 18 phút . Như vậy là tốt quá .Tôi ngõ lời khen Minh Châu rất có khiếu về ngoại ngữ , và nên cố gắng học tiếng Anh nếu muốn tham dự nhiều hội nghị quốc tế khác trong tương lai .

16 giờ, Toàn tới phòng tôi . Toàn và Minh Châu trịnh trọng mang tất cả quà cáp tặng tôi . Nào là CD, VCD tài liệu nhạc dân tộc, sách vở về nghiên cứu âm nhạc do viện âm nhạc xuất bản, một CD Rom thu toàn bộ 7 quyển sách về lý luận âm nhạc thế kỷ 20 vì tôi không cho mang sang 7 quyển sách đó (1000 trang mỗi quyển) rất nặng tuy rằng rất quý đối với tôi . Em Minh Châu còn tặng tôi hai chiếc áo rất đẹp, một món quà nữ trang thật quý gọi là quà tặng của Viện đã tận tình giúp cho hai thành viên của Viện âm nhạc được sang Sheffield tham dự hội nghị ICTM . Chúng tôi chụp hình lưu niệm . Tôi vô cùng cảm động trước sự ưu ái của Viện âm nhạc đối với tôi , dù rằng việc tôi làm chỉ là bổn phận của một người đồng hương, đồng nghiệp ở hải ngoại đối với người ở quốc nội .

16giờ30, chúng tôi có mặt tại hội trường để dự buổi lễ khai mạc hội nghị .Ban chấp hành chào mừng đại hội . Mọi người cám ơn lẫn nhau . Ban tổ chức giới thiệu các nhân viên lo cho đại hội để cho mọi người biết mặt và có thể nhờ giải quyết những gì có thể xảy ra trong thời gian hội nghị . Ban chấp hành giới thiệu thành viên từng người cho toàn thể hội trường .

17giờ 30 chấm dứt lễ khai mạc . Mọi người uống cà phê, nghỉ giải lao trước khi được mời ăn buổi cơm ngoài trời do trường đại học Sheffield đãi .

18giờ 30 khai mạc tiệc chào mừng ngoài trời . Nhiều món thịt nướng rất ngon, rau cải, bánh trái tràn đầy . Rượu trắng, rượu đỏ, rượu champagne tha hồ uống . Mấy trăm người dự hội nghị có dịp gặp nhau, chào hỏi . Tôi ngồi ăn với một số bạn , để cho Toàn và Minh Châu ngồi chỗ khác để có dịp làm quen với những nhà nghiên cứu các xứ .Tôi ăn món gà nướng, thịt bò nướng , súc sích, khoai tây luộc, bắp nấu ngọt và ngon , bánh sô cô la , trái cây (nho, táo, cam, lê), uống tất cả các loại rượu .

Trong khi ăn còn có nhạc trình diễn. Một cô hát , một cậu đàn Sanza của Phi châu. Sau đó tới màn múa bụng (belly dance) . Bên trong phòng có dàn nhạc đánh nhạc Nam Mỹ

21giờ30, Toàn về phòng tôi để tập đọc thử bài tham luận . Bài khá dài , cần phải cắt ngắn và phải sửa lại cách phát âm của nhiều chữ . Bài của Toàn chuyên về Hát Thiếp và múa Bông .

22giờ 30 Toàn từ giã và tôi di tắm rồi đi ngủ lúc 24 giờ .

Sheffield, thứ năm 4 tháng 8, 2005
( Hình có thể xem ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=634

Sáng hôm nay cũng đúng 8 giờ sáng , chúng tôi hẹn nhau tại phòng ăn điểm tâm . Phòng đầy chật cả người. Các bàn không còn một chỗ trống . Bốn anh em chúng tôi cùng nhau ăn chung một bàn tạo thành một đoàn nghiên cứu Việt Nam .

9giờ , tôi lựa một đề tài phù hợp với sở thích là “Folk and Modernity “ (Dân gian và canh tân) do TS Krister Malm, chủ tịch hội ICTM điều khiển . Có ba bài tham luận tất cả .

Bài thứ nhứt : “Authentic vs. Inauthentic” (Nguyên xi đối lại Không nguyên xi) do Robert Burns (Tân Tây Lan) thuyết trình

Bài thứ nhì “ The Revival of Traditional Music within New Context” (Sự tái sinh nhạc truyền thống trong khung cảnh mới) do bà Britta Sweers (Đức) tham luận

Bài thứ ba “Music for the Mediated Masses” (Nhạc cho những hệ thống truyền thong) do J. Lawrence Witzleben .

Bài tham luận thứ ba nói về nhạc khí cổ truyền Trung quốc dùng trong dàn nhạc pop Tây phương . Hình ảnh này làm cho tôi nhớ lại có một thời ở Việt Nam cũng xảy ra hiện tượng này . Có lẽ đó là do một vài nhạc sĩ Việt được huấn luyện ở Trung quốc mang về nước thể nghiệm kiểu này . Kết quả của cuộc dung hòa nhạc cụ cổ truyền trong dàn nhạc loại Tây phương không mang lại một thành quả tốt đẹp và hiệu quả mà chỉ làm cho chúng ta suy nghiệm thêm về cách pha trộn Âu/Á , Tây / Đông trong âm nhạc .

10giờ30 là giờ giải lao . Sau 1giờ 30 , tất cả 6 phòng hội thảo với 18 bài tham luận phải chấm dứt đúng giờ . Mọi người dùng cà phê, hay trà , cùng với bánh ngọt trước khi trở lại phòng hội để tiếp tục chương trình hội thảo .

11giờ ,chúng tôi tới phòng B để tài về « Reviving and Revitalizing Traditional Music in Modern Japan, Aesthetics, Impact » (Làm sống lại và khôi phục nhạc truyền thống trong xứ Nhật tân thời . Mỹ thuật, Ảnh hưởng) do GS David Hughes chủ tọa .

Bài tham luận 1: “Attempts at Reviving and Revitalizing Traditional Music in Contemporary Gagaku composition” (Thử làm sống lại nhạc truyền thống trong sang tác Nhã nhạc đương đại) do cô Fujita Rinko trnìh bày .

Cô Fujita Rinko đang viết luấn án tiến sĩ ở trường đại học Donau University của xứ Áo . Tôi có gặp cô này nơi đó vào năm 2004 khi tôi được mời tham luận về nhạc đồng bong ở Tây bá lợi á . Đề tài cho thấy những sang tác đương đại nhà nhạc có một màu sắc mới mẻ , nhưng tôi không mấy thích cho lắm . Đó là ý nghĩ riêng của tôi . Đối với tôi , nhã nhạc là loại nhạc triều đình có một số bài bản cố định , chỉ cần duy trì , gìn giữ y nguyên không cần phải thêm bài bản mới . Nếu có sáng tác mới chỉ là một cách thể nghiệm nhưng không làm giàu thêm cho loại nhạc này .

Bài tham luận thứ nhì là của cô Oshio Satomi “Reform of the Tradition, or Successive Change within a Tradition ? The Traditional and the Modern in Nagauta Music after World War 2” (Canh tân truyền thống , hay sự thay đổi tiếp nối trong khung truyền thống ? Truyền thống và Tân thời trong nhạc Nagauta (trường khúc) sau thế chiến thứ hai )

Tôi có phát biểu sau khi bài tham luận được đọc xong về cách dung quãng 4 và bát độ trong nhạc “trường khúc” đương đại . Cô Oshio có gặp tôi nhiều lần . Lần đầu tiên ở hội nghị ICTM tại Úc châu (1995), rồi ở ICTM tại Nitra (Slovakia, 1997), rồi ICTM tại Hiroshima (Nhật , 1999), rồi ICTM tại Rio de Janeiro (Ba Tây, 2001), rồi ICTM tại Phú Châu (Trung quốc, 2004). Lúc đầu tiên vào năm 1995, cô Oshio chỉ là sinh viên chuẩn bị luận án tiến sĩ với GS Tokumaru Yoshihiko . Vài năm sau, cô Oshio có sang Việt Nam để phụ giúp GS Tokumaru để lo thu thập tài liệu nhạc cung đình Huế . Cô có học , biết nói và viết tiếng Việt nhưng không có để tâm nghiên cứu nhạc Việt Nam . Giờ đây cô trở thành giáo sư đại học ở Nhật , tiếp nối những giáo sư “cựu trào” .

Bài tham luận thứ ba do cô Arisawa Shino (Anh quốc) : “Two Living National Treasures: Different Approaches to Tradition and Modernity” (Hai kho tàng quốc gia sống : hai quan điểm khác nhau đối với truyền thống và hiện đại).
“Kho tàng quốc gia sống” của Nhật tương đương với “Nghệ sĩ nhân dân” của Việt Nam . Chỉ có khác là “kho tàng quốc gia sống “ của Nhật là được chính phủ cấp dưỡng tiền dư sống để họ dành hết thì giờ còn lại của họ truyền hết nghề cho đám hậu sinh và rất được dân chúng kính trọng, và học trò mến phục .

Tới 12 giờ 30 , mọi người đều mệt không còn sức để tập trung tinh thần nghe thêm gì nữa . Nghỉ xả hơi độ 30 phút là tới giờ ăn trưa . Hôm nay ăn cá chiên (rất “nổi tiếng” của xứ Anh là “fried fish”, ai nghe nói tới mặt mày bí xị ) khoai tây luộc, cà tô mát, rau, bánh ngọt, xà lách trái cây, uống cà phê .

Ăn xong tôi đi ra văn phòng thư ký hội nghị đóng tiền niên liễm hai năm liền cho tôi và cho Viện âm nhạc, Toàn và Minh Châu . Tôi bảo trợ cho cả ba trọn hai năm tới cho tới năm 2007 . Khi nào tôi còn có sức làm việc và đủ khả năng tài chánh thì tôi bảo trợ . Khi tôi về hưu vào năm 2009 thì chừng đó tôi sẽ báo tin trước là tôi chấm dứt bảo trợ . Hy vọng rằng ở Việt Nam sẽ không nghĩ là tôi “thay lòng đổi dạ” là tốt rồi .

Buổi xế trưa tôi đi với Minh Châu dự hội thảo phòng C do GS Keith Howard , chuyên về nhạc Đại Hàn làm chủ tọa .
Bài tham luận đầu tiên của GS Dae Cheol Sheen (Đại Hàn) : “The Sword in Korean Traditional Music” (Cây gươm trong nhạc cổ truyền Đại Hàn). Anh Dae Cheol Sheen quen với tôi từ lúc hội nghị ICTM ở Seoul (Nam Hàn) vào năm 1981. Lúc đó anh ấy còn đang chuẩn bị luận án tiến sĩ . Sau hơn 24 năm quen nhau, gặp nhau liên tục qua những hội nghị , anh rất có cảm tình với Việt Nam , và thường mơ ước một ngày nào đó được dịp ghé thăm xứ Việt Nam để khám phá những cái hay trong nhạc Việt .

Tôi có phát biểu về cây kiếm trong nhạc Đại Hàn , đặc biệt là trong các điệu múa như “Múa kiếm”, “Múa văn miếu Khổng Tử”

Bài tham luận thứ nhì của cô Bussakorn Sumrongthong (Thailand) chú trọng về cuốn phim “Homrong” . Cô Bussakorn Sumrongthong có gặp tôi đầu tiên tại xứ Thái Lan vào năm 1996 nhân dịp đại hội liên hoan nhạc truyền thống được trường đại học Mahasarakham tổ chức vào dịp kỷ niệm 50 năm trị vì của vua xứ Thái . Lúc đó cô này còn là sinh viên tiến sĩ ở Anh quốc . Hiện giờ , cô trở thành giáo sư dân tộc nhạc học ở Thái Lan sau khi đậu tiến sĩ . Cuốn phim kể lại chuyện một cậu bé thích đàn RANAT (mộc cầm) một cách say mê . Về sau trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng ở Thái lan trong nhạc cổ truyền cũng như nhạc cổ cải biên . Phim được thực hiện vào năm 2003, tạo một luồng gió mới cho cây đàn RANAT , gây thành một phong trào thích đàn RANAT.
Một cuốn phim rất hay , đầy ý nghĩa, hỉ, nộ, ái , ố có đủ hết . Nghệ sĩ đóng rất tự nhiên, đàn thật điêu luyện, cốt chuyện thật cảm động . Tôi nghĩ là xứ Việt Nam cũng có nhiều đề tài về đàn như thực hiện một phim về đàn bầu, đàn đáy, hay đàn tranh , hay trống Tây Sơn, vv….
16giờ30 , nghỉ giải lao . Tôi cùng Minh Châu, Gisa uống cà phê . Một lát sau có Toàn tới nhập bọn . Anh Tô Ngọc Thanh không được khỏe nên về phòng nằm nghỉ .

Từ 17giờ tới 18giờ 30 có buổi hội chánh về “Ethnomusicology and Ethnochoreology at Home in Croatia during 1990s and early 2000s : War, Revitalizing, Applied Work” (Dân tộc nhạc học và dân tộc vũ học ở xứ Croatia trong thập niên 90 và đầu thế kỷ 21) do bà Nila Ceribasic chủ tọa .
Thảo luận về người xứ Croatia tại xứ Chí lợi (Chile) làm sao để bảo vệ truyền thống khi sống xa đất nước và truyền thống được duy trì như thế nào ở trong xứ .
Trường hợp này làm tôi nhớ tới dân Việt Nam hiện tại cũng có một hoàn cảnh tương tự . Số người Việt ở hải ngoại và người Việt trong xứ bảo lưu nghệ thuật cổ truyền ra làm sao . Sự va chạm với truyền thống khác khi phải sống chung đụng với những người không cùng một ngôn ngữ rất dễ làm pha loãng đặcchất của nhạc cổ truyền . Đó là điều không thể tránh khỏi .

Chiều nay mọi người dự hội nghị phải tự lo ăn uống lấy . Anh Tô Ngọc Thanh và hai em Toàn và Minh Châu đã chuẩn bị mì gói hàng chục bao để phòng ngừa khi không thể ăn cơm Tây thì có mì “ăn liền” đủ sinh lực để chống chọi lại những gì có thể xảy ra khi đi ra xứ ngoài . Tôi thì đinh ninh sẽ có nhà hang ở gần đó , có thể đi ăn nên không bận tâm lo như các bạn đồng nghiệp Việt Nam của tôi . Anh Thanh và hai em Toàn và Minh Châu mời tôi dự “tiệc” mì ăn liền . Tôi có mang theo một đòn giò nên để thêm giò vào tô mì ăn nóng hổi , bốc khói bay cùng gian phòng ăn . May là lúc đó chỉ có chúng tôi “tạm chiếm “ phòng ăn . Vừa ăn theo kiểu “dã chiến” , nhưng cũng vừa vui vì cùng nhau “ăn đồng chia đủ” . Nước thì có nước cola, cà phê (miễn phí) . Tôi mang theo một chai rượu cognac để phòng khi tôi bị “kiệt sức “ thì cho thêm “cognac” vào cho tôi “bừng tỉnh” mau . Nhờ vậy mà tôi cùng uống với anh Thanh và hai em Toàn, Minh Châu. Chén anh, chén em một hồi , nhậu chung với gói lạc rang hún liều anh Thanh mang theo cả mấy ký lận . Anh Tô Ngọc Thanh có tài kể chuyện rất có duyên . Không hiểu làm sao mà anh ấy nhớ cả “tấn” chuyện : cười cũng có , chuyện ngọt, chuyện mặn, chuyện chua, chuyện cay . Ối thôi cả chục chuyện anh thao thao kể , chúng tôi thao thao cười . Nhờ vậy chúng tôi thấy gần nhau hơn , coi như anh em trong nhà .
Khoảng 20giờ 30, Toàn và Minh Châu đi về phòng ngủ . Còn tôi , nhờ có rượu cognac tăng cường sinh lực , tôi đi xuống phòng giải trí để uống thêm bia đen Guinness, xem chương trình sinh hoạt văn nghệ . Tối nay , có đoàn múa dân tộc biểu diễn màn múa gậy của vùng Sheffield . Tôi có chụp một số hình với các bạn của tôi . Sau đó GS Jonathan Stock cầm máy vi âm nói lớn :

“Hôm nay chúng ta rất hân hạnh có sự hiện diện của một nhà nghiên cứu đa tài của xứ Việt Nam . Ông vừa là người phát hiện cách hát đồng song thanh cách đây hơn 35 năm. Ông lại là nhạc sĩ truyền thống đời thứ năm của Việt Nam . Ông lại còn đàn nhiều loại đàn , đặc biệt là muỗng và đàn môi . Không cần phải nói dài dòng . Xin mọi người cho TS Nhạc sĩ Trần Quang Hải một tràn pháo tay thật lớn “

Tôi vô cùng ngạc nhiên , đang đứng uống bia , xem chương trình văn nghệ . Bỗng dưng bị lôi ra diễn . Mọi người xôn xao đảo mắt tìm kiếm người mà GS Stock cho đi “máy bay giấy” lên chin tầng mây đứng ở đâu .

Tôi phải đứng dậy chào mọi người và tiến ra giữa phòng vì ở đây không có sân khấu . Trong người tôi không có một nhạc khí nào hết , ngoại trừ giọng của tôi . Tôi nói là tôi không tính trước để biểu diễn nên không có mang theo đàn . Mọi người nhao nhao lên :
“Hát đồng song thanh “
Thế là tôi bắt đầu màn trình diễn hát đồng song thanh , cho thấy cái đặc trưng của việc khắc chế bồi âm như thế nào và sau cùng hát bài (The Hymn of Joy – Khúc ca vui) , trích từ Giao hưởng số 9 của Beethoven . Tôi hát cả bài trong một hơi làm cho toàn cử tọa “nín thở”, “giữ hơi” theo tôi . Hát vừa dứt thì tiếng vỗ tay vang dậy cả phòng thật lâu . Tôi còn biểu diễn màn gõ muỗng với hai cây muỗng mượn của quay rượu . Dù không phải là muỗng của tôi nhưng tôi cũng đủ “chinh phục” toàn thể cử tọa .
Nhờ vậy mà sau đó , những nhà nghiên cứu khác lần lượt tham gia giúp vui . Tôi được các bạn thết đãi bia, rượu. Có người tới khen tôi . Có nguời hỏi tôi có rãnh để tới xứ họ biểu diễn . Sau đó tôi bị lôi ra để tham gia điệu múa dân tộc Tây phưong gần cả nửa tiếng . Vừa hơi bị say, vừa bị bắt quay cuồng với điệu múa, tôi mệt “lã da ếch”. Tôi bị lôi vào “mê hồn trận” cho tới 1 giờ sang mới tìm đường “tẩu thoát” về phòng với hơi men rượu bay lượn lòng vòng xung quanh người tôi .
Để tìm lại sự quân bình trong cơ thể trước khi “thả hồn vào giấc mơ “ triền miên, tôi đi tắm , uống nước lạnh, ăn một trái táo tây . Nhờ “liều thuốc” thần diệu này mà tôi đánh một giấc không còn biết “trời trăng” gì hết cho tới 7 giờ sang hôm sau .

Sheffield thứ sáu 5 tháng 8, 2005
Hình có thể xem ở đây : http://www.tranqhai.com/article.php?id_article=635 )

Sau khi ăn lót lòng xong như mọi hôm , tôi cùng Minh Châu và Toàn đi nghe hội thảo tại phòng A với đề tài “The Voice and Envoicement” do bà Veronica Doubleday chủ tọa .

Bài tham luận 1: New songs in the Bothy (Những bài hát mới xứ Tô Cách Lan) do Ian Russell (Anh quốc) trình bày .
Đề tài này không hấp dẫn cho lắm . Mục đích tôi chọn phòng hội thảo A vì có hai bài tham luận kế tiếp hạp với sở thích riêng của tôi

Bài tham luận 2: “Some Remarks on the Present Situation of Lullaby Singing in Japan” ( Một vài nhận xét về hiện trạng của hát ru ở Nhật) do cô Takamatsu Akiko tham luận

Trong phần thảo luận tôi có cho biết là không chỉ người đàn bà ru con với những bài hát ru mà cả đàn ông như cha , hay chị của em bé cũng có thể hát ru em . Ngoài ra tôi có nói thêm về đại hội liên hoan hát ru toàn quốc ở Việt Nam và một quyển sách về Hát Ru của Lư Nhất Vũ viết .

Bài thứ ba : “Reconstructing, Transforming, Creating Attitudes to Tradition in Vocal Folk Music Revitalization ( A Swedish example) (Tái thiết , Thay đổi, Sáng tạo thái độ đối với truyền thống trong việc làm sống lại dân ca về giọng ( một thí dụ Thụy Điển) do Ingrid Ekerson trình bày .

Tôi có phát biểu trong phần thảo luận về vai trò của cơ quan Rikskonsertene của Na Uy , cũng như của Thụy Điển đóng góp rất nhiều trong việc quãng bá nhạc dân tộc thế giới trong học đường từ mẫu giáo, tiểu học và trung học . Tôi có dịp trình diễn 500 buổi giới thiệu dân ca Việt Nam tại Na Uy từ năm 1976 cho tới nay , mang lại cho trẻ em Na Uy những điệu dân ca ba miền Việt Nam , một vài nhạc khí tiêu biểu như đàn tranh, đàn cò , sinh tiền . Ngoài ra tại Thụy Điển có đại hội liên hoan Falun Folk Fesival ở thành phố Falun (cách thủ đô Stockholm 600 km về phía Bắc) . Nơi đây vào năm 1996, tôi được mời trình diễn về đàn môi với hai nhạc sĩ Anh và Na Uy . Đồng thời tôi có dịp gặp một số nhạc sĩ trẻ Việt Nam tham dự trong phần sinh hoạt nhạc dân tộc chung với các nhạc sĩ trẻ khác của nhiều quốc gia . Sự giao lưu văn hóa âm nhạc tạo một sức sống rất mạnh trong truyền thống và có thể làm tái sinh một thể điệu nào hay một loại hát hay loại nhạc nào .

Sau khi nghỉ giải lao xong , chúng tôi đi vào phòng C về đề tài : “Music Education Policy” (đường lối giáo dục âm nhạc) do Stephanie Pitts chủ tọa .

Bài tham luận 1: “Music Education in a Multicultural World” (Giáo dục âm nhạc trong thế giới đa văn hóa) do Eva Fock (Đan Mạch) trình bày .

Tôi có nhắc tới vai trò của hội Rikskonsertene ở Na Uy đã có công quãng bá âm nhạc thế giới vào trường học toàn xứ Na Uy để giúp cho các trẻ em Na Uy , đồng thời cho các trẻ em của những xứ được định cư ở Na Uy có dịp biết về các loại nhạc trên thế giới . Như hiện nay tại xứ Na Uy có 15.000 người Việt định cư . Có hang nghìn trẻ em học ở các trường Na Uy . Việc tôi trình diễn cùng Bạch Yến dân nhạc Việt Nam đã giúp cho trẻ em Na Uy và các sắc tộc có một cái nhìn rõ rang về văn hóa âm nhạc Việt Nam . Đó là việc cần phải làm khi ở tại một xứ đa văn hóa như trường hợp Na Uy hiện nay .

Tôi lại nghĩ tới trường hợp xứ Việt Nam có 54 sắc tộc mà chưa có chương trình nào đưa nhạc các sắc tộc vào học đường để cho con em người Kinh có thể hiểu nhạc của những dân tộc cùng sống chung trên một lãnh thổ . Tôi nhớ khi tôi còn nhỏ , chưa bao giờ biết nhạc Tây nguyên (Ba –Na, Ra Đê, Gia rai, Xê Đăng, vv…) hay nhạc các sắc tộc vùng Việt Bắc (Dao, Thái, Tày, Nùng , Mường, Hơ Mông, vv…) hay nhạc Cao Miên, Chàm . Đây là công việc khẩn thiết phải được thực hiện càng sớm càng tốt để nâng cao sự hiểu biết về các sắc tộc ở Việt Nam .

Bài tham luận thứ 2 : “Can Music Education Policy Revitalize Japanese Traditional Music ? “ (Đường lối giáo dục âm nhạc hiện nay có thể nào làm sống lại nhạc cổ truyền Nhật hay không ?) do GS David Hughes trình bày .

GS David Hughes , gốc Mỹ, đã từng nghiên cứu lâu năm ở Hà Lan , chuyên về nhạc Nhật . Ông nói tiếng Nhật rất thông thạo, biết đàn shamisen, biết đánh trống trong nhạc tuồng Nô, và hiện là Giáo sư nhạc Nhật tại trường đại học SOAS ở Luân Đôn (Anh quốc) từ hơn 15 năm nay . Tôi quen với David Hughes từ năm 1976 lúc tôi tham dự đại hội liên hoan nhạc Á châu (Durham Oriental Music Festival) tại thành phố Durham (Anh quốc)

David Hughes nói về phương pháp làm sống lại dân nhạc ở đảo Okinawa . Sự kiện này đã xảy ra khắp nơi trên thế giới không có gì mới lạ .

Sau đó là tới giờ ăn cơm trưa . Chỉ có món thịt bò với cơm là ăn tạm được. Ngoài ra có rau , trái cây . Đúng là cơm cho sinh viên ăn chứ không phải là cơm dành cho người đi dự hội nghị quốc tế . Nhưng đỡ là không phải đi ra ngoài kiếm nhà hang nên không bị mất thì giờ vì chỉ có 1 giờ để ăn trưa .

Tôi về phòng thì cửa phòng tôi bị hư khóa . Tôi phải đi tìm người của trường đại học để sửa lại . Nếu không thì chắc tôi phải ngủ ở trước cửa phòng mình quá !

Từ 14giờ 30 tới 15giờ 45 là đại hội chánh để đọc báo cáo của ban chấp hành, thông báo những gì thay đổi của bản điều lệ và bầu ban chấp hành mới .
Khởi đầu là phần thông báo những hội viên không thể tới được có viết thư xin lỗi . Tiếp theo là phần loan tin những nhà dân tộc nhạc học từ trần như GS Jose Maceda từ trần tháng 2, 2005 tại xứ Philippines, GS Kishibe Shigeo từ trần tháng 3, 2005 tại Tokyo (Nhật Bản), GS Gérard Béhague từ trần ở Austin (Hoa kỳ) vào tháng 6, 2005 và GS Mantle Hood từ trần cuối tháng 7, 2005 tại Baltimore (Hoa Kỳ) . Ông chủ tịch Krister Malm (Thụy Điển) đọc báo cáo sinh hoạt của thời gian qua . Sau đó báo cáo tài chánh, và báo cáo của ban chấp hành .
Phần chót là danh sách người được bầu vào ban chấp hành mới của nhiệm kỳ sắp tới . Ông chủ tịch Krister Malm xin từ chức sau khi giữ chức chủ tịch 8 năm và ở trong ban chấp hành 21 năm . Ông Anthony Seeger , tổng thư ký cũng xin từ chức vì lý do bận nhiều công việc ở trường đại học UCLA (California, Hoa Kỳ) .
Ban chấp hành mới gồm có :
Chủ tịch : GS Adrienne Kaeppler (Hoa kỳ)
Phó chủ tịch : GS Wim Van Zanten (Hà Lan)
GS Alan Merritt (Ú châu)
Tổng thư ký : GS Stephen Wild (Úc châu)
4 vị tân hội viên của ban chấp hành được bầu kỳ này là :
GS Svanibor Pettan (Slovenia)
GS Jonathan Stock (Anh quốc)
TS Tan Soei Bin (Mã Lai)
TS Trần Quang Hải (Pháp)

Anh Tô Ngọc Thanh ở trong ban chấp hành từ nhiệm kỳ 1999 cho tới 2005 , tổng cộng là 6 năm , đã xin từ chức . Tôi là người thay thế anh Thanh trong ban chấp hành mới . Tuy là đại diện cho Pháp , nhưng tôi là gốc Việt nên tôi có thể tạm gọi là “đại diện” cho Việt Nam trong vòng 6 năm tới (từ 2005 tới 2011).

Bà Ursula Hemetek và phái đoàn xứ Áo lên trình bày hình ảnh và dự án cho việc tổ chức hội nghị ICTM lần thứ 39 tại thủ đô Vienna (Áo)

Buổi hội chấm dứt sớm hơn dự trù vào lúc 16giờ

Bốn anh em chúng tôi trở về phòng anh Thanh và cùng dùng cơm tối với những gói mì ăn liền rất hạp khẩu vị của chúng tôi .

Đến 18 giờ , chúng tôi ra bến xe buýt để đi ra phố dạo mát trước khi đi xem phim về nhạc xứ A phú hãn của GS John Baily (Anh quốc) được chiếu tại một rạp ở trung tâm thành phố vào buổi tối . Trong khi chờ xe buýt thì có một vài người bạn tới đề nghị đi taxi ra phố . Đi 5 người trong xe taxi chỉ trả có 6 bảng , mỗi người trả 1,20 bảng , tính ra còn rẻ hơn là đi xe buýt (giá mỗi vé là 1,30 bảng) . Với taxi , chúng tôi tới ngay cửa rạp chiếu bong Show Room .

Còn sớm quá, chúng tôi thả bộ đi vòng quanh thành phố , chụp hình những quán cơm , quán rượu trang trí với những chum bông tươi rủ xuống thật đẹp mắt . Có một nơi ngay thành phố cũng có nhiều hoa tươi và có nơi cây được cắt tỉa thành những bức tượng . Thế là chúng tôi chia nhau đứng chụp hình để ghi lại dấu vết , làm “chứng” cho sự có mặt của chúng tôi tại nhiều địa điểm ở thành phố .

19giờ30, chúng tôi trở lại Show Room để uống bia trắng , một loại bia đặc biệt của xứ Bỉ (có tên là Hoegarten).
Từ 20giờ 45 tới 23 giờ, xem phim về xứ A phú hãn do GS John Baily quay năm 2003 cho thấy sau trận giặc tàn khốc đã làm tiêu tan những ngôi nhà của những nhạc sĩ và của ông thầy dạy nhạc cho John Baily . Sau cuốn phim đó, còn có một cuốn phim thứ nhì quay năm 2000 cho thấy người A phú hãn tới Hoa kỳ sống ở thành phố San Francisco (Cựu Kim Sơn) , hội nhập vào xã hội mới nhưng vẫn cố giữ phong tục , tôn giáo và âm nhạc .

23giờ chúng tôi ai nấy đều mệt , ra về lấy xe buýt ở gần đó về tới cư xá đại học Ranmour House . Lại một màn ăn mì gói và hàn huyên cho tới 1 giờ sang mới đi ngủ .

Hết phần 1 của bài du ký

 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 19673056