Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » PETRUS KY truong trung hoc

GS NGUYỄN VĂN TRUNG : LỊCH SỬ VIỆT NAM NHÌN TỪ MIỀN NAM














Chương III

LỊCH SỬ VIỆT NAM NHÌN TỪ MIỀN NAM



Giáo Sư NGUYỄN VĂN TRUNG


Trong phần này, chúng tôi tìm hiểu lịch sử Việt Nam nói chung và miền Nam nói riêng do các tác giả miền Nam viết. Ngoài ra chúng tôi cũng muốn tìm hiểu sự hình thành các nhóm tôn giáo. Theo chủ trương, chỉ nhận định những gì có tài liệu, đã được đọc, nên ở đây chúng tôi mới nói đến Cao Đài và Công giáo, mà không nói đến Hòa Hảo hay Phật giáo, Hồi giáo... vì lẽ chúng tôi chưa tìm ra những tài liệu đáng kể.

Về lịch sử, chúng tôi phân biệt hai thể loại: sách sử ký và tiểu thuyết lịch sử. Chúng tôi cũng lưu ý cần phân biệt những sách báo, tài liệu đã được in ra, phổ biến công khai, hợp pháp đối với nhà cầm quyền thời đó và những ấn phẩm tài liệu không in ra được, hoặc in ra, bị tịch thu, và tác giả bị đưa ra tòa, hoặc chỉ truyền miệng.

Chúng tôi đã viết, lược tóm, nhận xét từng cuốn đã đọc, nhưng vì chưa thể in hết được, nên chỉ giới thiệu một vài cuốn chính và nói qua những cuốn khác...

*

I. SỬ KÝ

Có lẽ cho đến nay, những người tìm hiểu nghiên cứu sử Việt Nam thường chỉ dựa vào ba nguồn tài liệu: chính sử do các triều vua ra lệnh biên soạn, sử Tàu và sử do các nguồn phương Tây ghi chép; và cho rằng cuốn sử đầu tiên trên soạn theo lối Tây phương bằng quốc ngữ là của Trần Trọng Kim như Vũ Ngọc Phan, Đào Đăng Vĩ đã khẳng định.

Chúng tôi tìm thấy một số tài liệu sử Việt Nam, đặc biệt liên quan tới thời kỳ cận đại, hiện đại, thời kỳ Đàng trong được thành lập và phát triển do những người Việt Nam viết bằng quốc ngữ khá sớm, có cuốn vào cuối thế kỷ XIX. Chưa xét những tài liệu sử đó đúng hay sai thế nào, chỉ nguyên sự kiện nó có đó cũng đủ làm cho người quan tâm về sử, sử do người Việt Nam viết, theo quan điểm người thường, phải chú ý tìm hiểu.

Chúng tôi đã đọc được một số ít và thấy những tài liệu này cung cấp nhiều sự kiện, chi tiết mới chưa hề được nói đến, hoặc những sự kiện đã biết, những thiếu sót do đó có thể đóng góp vào việc nhìn lại nhiều vấn đề, nhiều quan điểm vẫn được phổ biến chấp nhận cho đến nay, tuy thực ra đôi khi đó chỉ là những thiên kiến.

Hiện nay chúng tôi biết có một vài cuốn sau đây, đã ghi trên những lời rao quảng cáo ở các báo cũ và có cuốn chúng tôi đã tìm ra được:

1. Sử ký Đại Nam Việt quốc triều, Tân Định, in lần thứ 1 - 1879, lần thứ 5, 1909. Chúng tôi có bản 1909.

2. Nam Việt lược sử. Nguyễn Văn Mai Saigon 1919 (có).

3. Sử ký. Histoire annamite (anonyme) Bibliographie ann. Livres Receuil des périodiques manuscrits cartes et plans parus depuis 1866 publiés par le comité agricole et industriel de la Cochinchine. Extrait du Bul. agr. et industriel 3è série Tome I No 11 année 1079 (chưa có).

4. Ước lược truyện tích an-nam. Trương Vĩnh Ký Rey et curiol 1887.

5. Sử ký Nam Việt 0,60 Claude et Cie 1901 (rao trên Nông Cổ mín đàm (chưa có).

6. Sử ký Đại Nam Việt, 0,60 Phát Toán 1910 (chưa có).

7. Sự tích nước Annam từ đời Hồng Bàng đến đời Duy Tân. Khởi đăng trong NCMD từ số 1/6/1916 (có).

8. Annam sử truyện. Nguyễn Văn Sanh đăng trong "Nam Kỳ địa phận" (1913) (có) và một số tài liệu viết về từng nhân vật như Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi...

COURS D"HISTOIRE ANNAMITE

par P.J.B. Trương Vĩnh Ký

Nhận xét:

Việt Nam có sử từ lâu nhưng đều ghi bằng Hán văn soạn thảo theo quan niệm của Trung Hoa. Những bộ sử ấy cũng ít phổ biến trong quần chúng vì lý do trong trương trình thi cử học hành cũ, chỉ có Bắc sử, nghĩa là sử Trung Hoa, chứ không có Nam sử là sử Việt Nam.

Sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ làm thuộc địa, đã cho mở khá sớm các trường học theo mô hình Tây phương, trong đó bắt đầu có môn Nam sử - dĩ nhiên theo quan niệm Tây phương; Các bộ sử Việt đã có tất nhiên không đáp ứng được nhu cầu giảng và học sử theo lối mới này. Cần phải có ngay một bộ giáo khoa sử Việt soạn theo phương Tây, và Trương Vĩnh Ký đã đáp ứng nhu cầu trên. Và do việc sử dụng Pháp văn làm chuyển ngữ chính trong các trường tây Nam Kỳ. Trương Vĩnh Ký soạn bằng Pháp văn bộ sử này. (Ông có bản thảo bằng quốc ngữ trước hay không, chúng ta hiện chưa biết).

Bộ sử của Trương Vĩnh Ký gồm có hai cuốn, trên bìa có ghi như sau:

Cours d'histoire annamite. "Giáo trình sử ký Annam (1)

à l'usage des écoles de la Basse Cochinchine (2): để sử dụng trong các trường xứ Nam Kỳ.

pat P.J.B. Trương Vĩnh Ký ler Edition do P.J.B. Trương Vĩnh Ký soạn xuất bản lần 1

Saigon - Imprimerie de Gouvernement 1877 Saigon - Nhà in Nhà nước 1877

Trên bìa của cuốn 1 và 2 đều có ghi thêm nội dung của mỗi cuốn:

Cuốn 1 ghi: Comprenant les 1ère, deuxième et troisième époques historiques jusqu'à la seconde dynastie de Lê, de 2874 avant JC jusqu'à en 1428 de l'ère chrétienne (gồm thời kỳ lịch sử thứ nhất, thứ nhì, thứ ba cho tới triều đại Hậu Lê, từ 2874 từ TL đến 1428 sau TL).

Cuốn 2 ghi: Comprenant l'histoire des Dynasties de Lê et de Nguyễn (cinquième et sixtième dynasties de la 3è époque historique) (gồm lịch sử tiền Lê và triều Nguyễn (vương triều thứ 5, thứ 6 của thời kỳ lịch sử thứ 3).

- Trương Vĩnh Ký ngưng bộ sử của ông ở sự kiện chính quyền Pháp bổ nhiệm quan văn đầu tiên, ông Le Myre de Vilers, làm Thống đốc Nam Kỳ năm 1879.

Cách viết của ông tương tự như Trần Trọng Kim trong VIỆT NAM SỬ LƯỢC sau này. Nghĩa là trình bày theo thứ tự hết triều vua này đến triều vua khác. Triều vua nào nhiều điều đáng ghi (theo chủ quan tác giả) thì dài và ngược lại - và mặc dù viết bằng Pháp văn, mọi tên người, đất... đều in đủ dấu tiếng Việt.

- Tuy viết bằng Pháp văn, nhưng lời nói đầu, giành cho học sinh, Trương Vĩnh Ký lại viết bằng tiếng Việt, nguyên văn như sau:

CHO HỌC TRÒ CÁC TRƯỜNG ĐẤT NAM KỲ,

Ở các trò trai trai, ta xin kiêng sách này cho các trò, vì làm nó ra là làm cho các trò coi. Dùng tiếng Pha lang sa là tiếng dã ròng mà lại hay mà chép truyện đất nước ta ra cho anh em đang lo học mà thuật lại truyện anh em đã biết thì sẽ giúp anh em cho dễ thông ý chí léo lắt và hiểu rõ cốt cách tiếng ấy hơn.

Nói tắt một lời, ta muốn làm ích cho anh em, chớ chỉ ước làm vậy mà được như làm vậy... Đến sau, khi anh em đã học thành tài, biết bắt biết mạch được, thì xin hãy dong thứ cho kẻ lớp trước anh em, vì những kẻ ấy thực trước chẳng có được những phương tiện mà học hành như anh em bây giờ nhà nước đầy lòng lo lắng đã liệu biện cách rộng rãi cho làm vậy đâu.

Tại Chợ Quán ngày 25 tháng 2 năm 1875

PJB Trương Vĩnh Ký

- Ngoài lời nói đầu giành cho học sinh, Trương Vĩnh Ký có viết một "Avant Propos" giành cho độc giả nói chung, trong đó tác giả trình bày những nhận định, quan điểm của mình về sử.

NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT

Những công trình văn học thường hiếm hoi trong các xứ phương Đông, các sử quan, để làm vui lòng các đấng quân vương, thường hay bịa đặt ra các huyền thoại để khẳng định thiên mệnh của vương quyền.

Trên nguyên tắc, tất cả mọi chính quyền đều bắt đầu bằng chế độ phụ hệ, nhưng các gia đình đã sinh sôi nảy nở nên phải chia xẻ quyền bính để duy trì các thành viên trong khuôn khổ các quy tắc chung cả xã hội.

Để điều khiển số dân trở thành đông đảo này, cần phải chỉ định các cấp chỉ huy, ban hành các luật lệ để đảm bảo dân phải tuân theo luật chung.

Các cấp chỉ huy này cần có uy tín mới được: Tôn giáo đóng góp một phần lớn trong việc tạo ra uy tín này - tục lệ, huyền thoại và các sử ký đã cho chúng ta biết như vậy.

Các bộ sử của một dân tộc thường được viết rất trễ, sau khi các thời đại và biến cố lịch sử mà các bộ sử nhắc tới đã chìm sâu vào dĩ vãng. Bởi thế các bộ sử phải đi giật lùi. Ngược với các thời kỳ khuyết sử và do đó phải lấy nguồn gốc từ các thần thoại tối tăm.

Mặc dù vậy chúng ta không được phép bỏ qua các thần thoại cổ thời ấy, dù chúng có vẻ cường điệu, quá hỗn độn mơ hồ; lý do vì nếu chúng ta loại bỏ được những gì trí tưởng tượng và sai lầm của con người đã mang lại, bao giờ chúng ta cũng rút ra được một sự kiện có thật, hay ít nhất, một chỉ dẫn, một dấu vết có thể giúp chúng ta tìm hiểu sự thực. Đó là lý do tại sao tôi đã ghi lại trong bộ sử này một số huyền thoại đã có ghi trong các bộ sử Annam trước đây, dù về hình thức chúng hoang đường nhưng đối với tôi chúng vẫn xứng đáng để hưởng một vị trí trong bộ sử mà tôi đã phân chia làm ba phần, tùy theo đặc tính của mỗi thời đại. Thực vậy, lịch sử Annam chia làm ba thời đại:

- Thời đại thứ 1: từ năm 2874 tới TC giáng sinh (thời cổ đại của lịch sử Annam)

- Thời đại thứ 2: từ đâu TL kỷ nguyên tới 966 (thời kỳ chuyển tiếp).

- Thời đại thứ 3: Kể từ 966, bao gồm các triều đình Lê, Lý, Trần, Lê và Nguyễn tới ngày nay (thời hiện đại).

Bài "Nhận định tổng quát" trên, dù ngắn ngủi, cũng đã cho chúng ta biết rõ nhiều điều về Trương Vĩnh Ký.

- Ông không phải là một nho sĩ, dù uyên thâm nho học: ông không tin có thiên mệnh, mệnh trời nào cả.

- Ông cũng không hẳn là một tín đồ Thiên chúa giáo như chúng ta thường biết. Đối với ông, các vua chúa chẳng qua do nhu cầu tổ chức của xã hội loài người mà có. Và hơn nữa, tôn giáo đã đóng góp một phần lớn vào việc tạo ra uy tín cho vua chúa. Một nhận xét như thế về tôn giáo nói chung rất có thể chẳng làm vui lòng Giáo hội La Mã thế kỷ 19.

- Ông có tinh thần khoa học của sử gia hiện đại: ông không tin ở bất cứ huyền thoại nào nhưng lại ghi chép đầy đủ vì tin tưởng sẽ tìm được sự thực xuyên qua huyền thoại.

Về cách viết nói chung của Trương Vĩnh Ký:

Chúng ta hãy coi phần mở đầu của cuốn 2 như sau:

VƯƠNG TRIỀU THỨ NĂM

(Nhà Hậu Lê - 1428 - 1875)

Lê Thái Tổ (Lê Lợi) người sáng lập triều Lê (hậu)

1428 - 1434: 6 năm

Niên hiệu: Thuận Thiên

Lê Lợi không chính thức cầu phong cho mình khi cho sứ thần sang báo cho triều đình nhà Minh biết là dòng họ nhà Trần đã tuyệt. Vấn đề này chỉ được đặt ra một cách kín đáo thôi và trên thực tế Lê Lợi đã xưng vương rồi.

Sứ bộ lên đường ngày 18 tháng 4 thì ba ngày trước, ngày 15 Lê Lợi đã lên ngôi vua tại Đông Đô (Kẻ chợ hay Hà Nội) và đổi tên nơi này thành Đông Kinh (thủ đô, kinh đô phía đông). Sau này tên gọi này chỉ được chỉ chung toàn xứ và người Âu châu ghi là Tonquin hay Tonkin. Khi còn sống, Lê Lợi được gọi là vua Thuận Thiên, sau khi chết mới được gọi là Lê Thái Tổ cao hoàng đế, tên mà lịch sử sau này quen dùng.

Lê Thái Tổ cai trị đất nước cũng tích cực y hệt khi chiến đấu giành độc lập. Lên ngôi giữa tháng 4 mà ngay tháng 5 ông đã triệu tập các quan để thông qua các đạo luật đã soạn thảo, ông cũng tham khảo các quan trong việc tổ chức hành chánh và bổ nhiệm các quan tỉnh. Cũng vào ngày 20 của tháng 5 này, Minh Triều trao trả các tù binh Việt bị bắt trước đây...

- Về cách phê phán, Trương Vĩnh Ký tỏ ra khách quan một cách đáng khen. Mặc dù là người theo đạo Thiên chúa giáo, ông không hề thiên vị, thí dụ đoạn sau chứng tỏ:

Thiên chúa giáo dưới thời Lê Hiển Tông:

Giáo hội mới hình thành ở Đàng ngoài cũng như Đàng trong đã gặp nhiều cấm cản dưới triều Lê Hiển Tông.

Trịnh Đinh cấm đạo không phải do lòng căm thù của một người theo tôn giáo này đối với một tôn giáo khác mà vì muốn duy trì sự thống nhất về tôn giáo... Mục đích của các vua Annam không khác chi mục đích của biết bao vua chúa các nước văn minh khác đã cố gắng theo đuổi sự thống nhất tôn giáo trong vương quốc mình. Và chắc chắn rằng, như Charles IX, Louis XIV chẳng hạn ở nước Pháp, chỉ hai vị ấy thôi cũng đã làm nhiều điều xấu để duy trì thống nhất tôn giáo hơn là tất cả các vua Annam cộng lại.

Vả lại, ngoại trừ một số trường hợp ngoại lệ, việc cấm đạo ở Annam chẳng bao giờ đưa tới những trụ lực như chúng ta thường gặp rải rác trong lịch sử các dân tộc khác (trang 191-192)

Về cách trình bày nội dung:

Từ trang 1 tới 179, tác giả có cách trình bày thống nhất như đã ghi nhận trên, là hết đời vua này đến đời vua khác. Không đánh số thứ tự, chia thời đại gì cả, tất cả chỉ căn cứ vào thứ tự kế nghiệp của các vua Lê. Khi đã có nhà Mạc, rồi Trịnh và Nguyễn chen vô thì tác giả ghi thêm luôn phía dưới. Người giảng dạy cũng như học sinh, cứ việc dạy và học hết đời vua này đến đời vua khác.

Như vậy mỗi đời vua là một chương mục, với cách nêu đề như sau:

- Thời vua Lê cầm quyền thực sự:

Lê Thánh Tông (Tự Thành) vua thứ 4 nhà Lê

1460 - 1498: 38 năm

Niên hiệu: Quang Thuận và Hồng Đức

- Thời kỳ có nhà Mạc tiếm ngôi.

Mạc Đang Đông, kẻ tiếm ngôi

1527 - 1530: 3 năm

Niên hiệu: Minh Đức

- Thời kỳ Lê Mạc:

Lê Trang Tông Đủ Hoàng đế (Lê Minh) vua thứ 11 nhà Lê

1553 - 1549: 16 năm

Niên hiệu: Nguyễn Hòa

Kẻ tiếm ngôi

Mạc Đăng Đinh, 1533 - 1540: 8 năm, Đại Chánh.

Mạc Phước Hải, 1540 - 1546: 6 năm

Mạc Phước Nguyên, 1546 - 1548: 2 năm - Vua Minh

<<(1) Tức Trịnh Doanh, bố của Trịnh Sum, tức là Trịnh Sâm. Cũng cần ghi thêm là Trịnh Khải được Trương Vĩnh Ký ghi là Trịnh Giai.>>

- Thời kỳ có chúa Trịnh chúa Nguyễn:

Lê Thần Tông (Lê Duy Kỳ), vua thứ 16 nhà Lê.

1618 - 1643

Niên hiệu: Vĩnh Tộ, 11 năm; Đức Long: 7 năm

Dương Hóa: 9 năm.

27 năm

Trịnh: Nguyễn

Bình An Vương (Trịnh Tòng) 1620

Sãi Vương (Nguyễn Phước Nguyên) 1614 - 1635

Thanh Đô Vương (Trịnh Trang) 1620 - 1645

Thượng Vương (Nguyễn Phước Lan) 1635 - 1649

Đến hết đời vua Lê thứ 26, Lê Hiển Tông, tác giả đưa ra một nhan đề: COCHINCHINE (theo cách dùng tên của Trương Vĩnh Ký, Cochinchine chỉ Đàng trong. La Basse Cochinchine mới chỉ Nam Kỳ). Kể từ đây trở đi, mới có tên đề mục. Thí dụ: Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn - Quân Đàng Ngoài tiến vào Đàng Trong...

Về cách viết của Trương Vĩnh Ký:

Đây là một cuốn giáo khoa, bởi thế tác giả viết bằng lối văn giản dị, dễ học dễ nhớ, đáp ứng được nhu cầu thông thường của loại sách này.

Nhưng đặc điểm riêng của bút pháp Trương Vĩnh Ký vẫn có. Đáng chú ý nhất là ông đưa vào sử những sự kiện ngoại sử, vừa hấp dẫn người học, vừa lý giải được chủ đề ông muốn nêu ra. Thí dụ: Như về vụ án Nguyễn Trãi, tác giả thuật lại có khác ấn bản quen thuộc (Lê Thái Tông chết ở Lệ Chi Viên vì mã thượng phong với Thị Lộ):

"... Một hôm Nguyễn Thị Lộ pha trà hầu vua, nàng đã trộn nước bọt của mình vào trà. Nhà vua sau khi uống chén trà này thì tình yêu bốc lửa, kéo nàng vào phòng riêng. Trong một cái hôn, Nguyễn Thị Lộ đã cắn lưỡi vua một nọc độc tràn vào các mạch máu làm cho vua chết thẳng cẳng".

- Thí dụ như kể về vị vua bạo chúa bạo dâm Oai Mục Đế, vua thứ 7 đời Lê (sử quan gọi là Lê Uy Mục), nếu Trần Trọng Kim ghi: "Cho nên sứ Tàu sang làm thơ gọi Uy Mục là Quỉ Vương" thì Trương Vĩnh Ký ghi:

"Năm 1501, sứ thần Trung Quốc đến tấn phong cho Oai Mục Đế... một nhân viên trong đoàn, khi nhìn thấy mặt vua Annam, đã thốt lên: Tôi không hiểu mệnh trời là thế nào? Con người này là Quỉ vương hiện hình?"

- Thí dụ khi muốn nói việc cấm đạo ở Việt Nam nhiều khi lại là tại chính giáo lý Thiên chúa giáo (hay là tại cách hiểu quá hẹp hòi về giáo lý đạo mình của các nhà truyền giáo thời đó). Trương Vĩnh Ký kể lại truyện sau:

"Trịnh Sum tỏ ra khoan hồng, thuận lợi cho đạo Kitô cho đến 1773. Năm đó bà mẹ của chúa, là người có đạo, cho mời hai linh mục - một là tu sĩ dòng Đa Minh, một là người Việt - đến để thảo luận về tôn giáo với một vị sư, một đạo sĩ và một nho sĩ - Một hôm bà hỏi hai linh mục rằng linh hồn của những người không theo đạo Kitô sau khi chết sẽ ra sao, thì hai vị này trả lời:

- Xuống thẳng địa ngục.

Tức giận trước câu trả lời này bà mẹ Trịnh Sum cho giết luôn hai linh mục".

Tâm trạng Trương Vĩnh Ký:

Tại trang 251 - 252, sau khi tả Gia Long chiếm xong Hà Nội thu cả giang san về một mối, tác giả có ghi lại tâm tình, phê phán của mình về Vương triều do Nguyễn Ánh sáng lập và chế độ thuộc địa của Pháp đang thực hiện:

"Việc chiếm được Hà Nội mang lại cho Gia Long hơn 100 con voi, nhiều đại bác, vũ khí các loại và thuyền chiến. Nhưng quan trọng nhất là chiến thắng này làm cho Gia Long trở thành người chủ duy nhất của cái đất nước bị chia xẻ, tranh giành, xâu xé giữa bao nhiêu người, cái đất nước bị kiệt quệ cả về sức người lẫn của cải vì bao trận chiến liên tục. Gia Long lên làm vua, nhưng là vua của một nước hoang tàn. Nhưng thực ra dù bị tàn phá sâu xa như vậy, đất nước này hãy còn chứa đựng trong nó rất nhiều tài nguyên để cho một chính quyền sáng suốt và thương lo cho dân có thể khai thác để mang lại sự giàu có thịnh vượng. Hiện nay chúng ta đã có trước mắt thành quả không lấy gì làm khích lệ lắm mà Gia Long và các vị kế nghiệp ông đã mang lại cho tới giờ phút này. Sự bướng bỉnh mù quáng của họ đã làm mất Nam Kỳ, nền hành chánh tồi tệ của họ đã làm thất nhân tâm Bắc Kỳ, còn xét chính cái miền Trung Kỳ thì những nỗi khốn khổ, sợ hãi của nhân dân bị áp bức, sự chuyền chế và tham ô của quan lại các cấp cũng đã bộc lộ khá rõ, khỏi cần phải nói thêm. Nếu người ta mong chờ từ Huế để Annam ta có được sinh hoạt chính trị của các dân tộc hữu dụng, nếu vương triều Nguyễn muốn tồn tại lâu dài, thì họ phải tìm ra con đường của mình và cương quyết theo đuổi nó đến cùng.

Còn về phần chúng tôi, những sử gia trung thực, chúng tôi bao giờ cũng tôn trọng quá khứ, biết xưng tụng và không tỏ ra bất công với nó; chúng tôi chẳng bao giờ quên rằng dân Annam của nước Pháp, hay dân Annam của Trung Kỳ và Bắc Kỳ, chúng tôi đều có nguồn gốc chung (3) Mặc dù đã bị chia cắt bởi các số phận chính trị khác nhau, chúng tôi đều hết sức chống lại cái nền hành chánh sai lầm ấy... cái thú hành chánh không là gì khác hơn là sự bóc lột vụng về và sát nhân cả một nước của một đẳng cấp quan lại tham vọng và tham tàn...".

Trương Vĩnh Ký thường tỏ ra bình dị kín đáo, khiêm tốn trong lời văn, nhưng ở đây ông đã không ngăn cản được sự phẫn nộ, buồn tủi, nên đã viết ra những dòng trên, và vì thế ông phải thêm một chú thích ở dưới. "Xin lỗi vì đã nói lạc đề trong một bài giảng về lịch sử, vì nhìn ngắm những sự kiện lịch sử đã qua làm cho tôi không thể cầm lòng được. Xin đừng ai giận tôi có một nỗi buồn cay đắng tràn ngập lòng tôi khi tôi nghĩ đến những gì mà xứ này đang phải gánh chịu cả những gì đáng lẽ nó đã có thể có được" (trang 252).

Nhận xét cuối cùng:

Chúng tôi đã không làm lược tóm, ghi chú đầy đủ bộ sử 2 tập này của T.V. Ký vì dù sao nó cũng đã được viết bằng tiếng Pháp, nhưng cũng không thể bỏ qua, không nhắc sơ lược đến vì đây là một cuốn sử, theo chỗ chúng tôi biết hiện nay viết theo lối khoa học tây phương sớm hơn cả, chứ không phải cuốn Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim như người ta vẫn tưởng. Lối nhìn và phê phán của T.V. Ký so với đương thời thực là khoa học, tiến bộ và ngay cả bây giờ cũng không hoàn toàn lỗi thời. Chúng tôi cho rằng các tác phẩm của những người Việt viết về Việt Nam, cho người Việt Nam, trong một hoàn cảnh đặc biệt (chính trị, văn hóa đương thời ngoại thuộc) bằng chữ viết nước ngoài (chữ nho, chữ Pháp...) nên được coi như thuộc văn, sử Việt Nam.

SỬ KÝ ĐẠI NAM VIỆT

Khuyết danh

Nhận xét:

Dưới nhan đề SỬ KÝ ĐẠI NAM VIỆT, có ghi thêm "Quốc Triều" phía trên, nơi thường ghi tên tác giả, chỉ có hàng chữ "ANNALES ANNAMITES". Dưới hai chữ "Quốc Triều" có ghi hàng chữ "Nhứt là doãn tích từ Hiếu Vũ Vương cho đến khi vua Gia Long (Nguyễn Ánh) đặng trị lấy cả và nước An Nam". Phía dưới, có ghi "In lần thứ năm" và tên nhà xuất bản "Saigon, Imprimerie de la Mission à Tân Định, 1909".

Tư liệu chúng tôi có là sách xuất bản lần thứ năm (1909) nhưng thời gian tác giả soạn cuốn sử này phải trước đó rất lâu. Lý do:

- Dùng rất nhiều từ cổ (nhiều từ hiện nay phải dùng toàn câu mà đoán ra nghĩa). Cấu trúc ngữ pháp cũng cổ kính, trục trặc.

- Dùng các tên, danh xưng chỉ phổ biến trong thế kỷ 19, đôi khi còn cũ hơn thế nữa. Người đọc hiện nay, nếu không nhớ kỹ sử Việt Nam, thật khó mà đoán được "ông Hậu" là Chưởng Hậu quân Võ Tánh, "ông Hữu Ngoại" là Đỗ Thành Nhơn, "Hoàng Triếp" là Nguyễn Quang Toản...

- Cách thế ghi chép có vẻ như chứng nhân, nhất là về những sự việc xảy ra trong nửa thế kỷ sau thế kỷ 19.

- Chúng tôi tìm thấy trong thư mục của BSEI, ler semestre 1889 ghi lần xuất bản đầu tiên của cuốn này với nhan đề khác "Đại Nam Việt Quốc Triều sử ký".

1. Đông Cung nhụt trình Chronique annamite suivie de poèmes sur le voyage du prince héritier en occident, les souffrances des chrétiens pendant les guerres civiles.

2. Tụ thánh thục đàng

3. Hàm oan chí từ

4. Át sát yết thị

Ivolume 256 pages. Tân Định, Imp. de La Mission 1879

- In lần thứ hai: 1885, lần thứ ba: 1898, lần thứ tư: 1805.

Quan điểm của người viết:

Đó là quan điểm của người theo đạo Thiên chúa thời bấy giờ coi Thiên chúa là trên hết, mọi người không phân biệt quốc gia, dân tộc đều là anh em vì con một cha tên Trời và sự cứu rỗi linh hồn là điều quan trọng nhất. Như vậy, Tổ quốc, dân tộc không bị phủ nhận nhưng bị vượt qua (hiểu theo nghĩa Hegel: vượt mà vẫn giữ lại cái vượt qua) và mọi chính quyền giúp người Thiên chúa giáo sống đạo và truyền đạo, nghĩa là rao giảng việc cứu rỗi các linh hồn, điều được họ chấp nhận tuân phục bất kể dưới thể chế chính trị nào...

Phải hiểu được quan điểm trên mới thấy người viết sử giữ được thái độ tương đối khách quan, không thiên lệch về bất cứ phe phái nào thời nội chiến (Lê, Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn Ánh) nhất là lúc ban đầu, chỉ về sau mới thấy thiên về Nguyễn Ánh vì hy vọng đạo sẽ được tự do truyền bá trong vương quốc mới. Chính vì thế mà tác giả đã để lại cho chúng ta nhiều tư liệu khá khách quan rất đáng chú ý mà các sử gia sau này hoặc đã bỏ qua, hoặc không biết tới.

Chẳng hạn nói đến Tây Sơn thời kỳ đầu khởi nghĩa, tác giả khen Tây Sơn cho tự do tôn giáo về đạo, nên về đời, có chỗ khen chỗ chê, do đó chỗ chê không thể nói là vì ác cảm, thiên kiến với Tây Sơn. Khen dưới thời Quang Trung, nhân dân có kỷ luật, sau khi Quang Trung mất, quân lính có nơi vô kỷ luật, kiêu binh. Tả trận Xoài Mút theo con mắt của một người quan sát ngoài cuộc.

Đối tượng chính của người viết sử là nhân dân bình thường nhất là nông dân. Bởi thế tác giả chú trọng nhiều tới tác động của các sự việc lịch sử vào nhân dân, mang lại một đóng góp quí giá cho chúng ta ngày nay. Nhân dân vui buồn, đói no thế nào trong các thời kỳ ấy? Đây là quan điểm nhân dân, không phải quan điểm chính sử dựa vào dòng họ, triều vua như nhan đề một chương: Những sự khốn khó dân phải chịu... Xa hơn nữa, đó còn là quan điểm của những người bị trị. Lần đầu tiên trong kho tàng chữ viết (bên cạnh truyền thống dân gian truyền miệng) chúng tôi bắt gặp một cuốn sử viết theo quan điểm của những người dân bị trị nhìn những sự việc của các kẻ thống trị, bất kể là ai theo quan điểm của người bị trị.

Trong đoạn nói về "những sự khốn khổ dân phải chịu" thời Tây Sơn - Nguyễn Ánh tranh chấp, người viết đã ghi:

"... sau nữa, dầu quân Tây Sơn, dầu ông Hoàng Tân thì cũng lấy điều dữ mà nộ nạt ngầm đe thiên hạ, hầu ép lòng dân tòng phục mình, bằng cứ lời nhủ bảo mà thôi, thì chẳng hề đặng việc gì bởi đó thiên hạ khốn cực lắm, vì phải giặc hai bên chỉ đánh nhau luôn. Khi thì bên nọ thắng, khi thì bên kia thắng, thiên hạ chẳng biết vâng cứ ai, chẳng biết mình thuộc về ai. Hoặc bên nọ lấy đặng xứ nào một ít lâu, mà đến sau phải thua chạy bỏ xứ ấy thì bên kia liền bắt tội những người xứ ấy vì đã theo giặc".

Hoặc nói về ba anh em Tây Sơn đánh nhau:

"Vậy hai anh em vây thành Qui nhơn, đánh cùng anh cả đã lâu lắm, song chẳng bên nào đặng, chẳng bên nào thua. Ba anh em làm hại nhau và làm hại cả thiên hạ".

Nói về những phe đánh nhau ở Đàng Ngoài và kết luận: "Dầu các quan, dầu quân lính đều ra như kẻ cướp hết thảy". Sau cùng nói đến Gia Long khi đánh Tây Sơn thì dân chúng có hi vọng ở ông, nhưng lên cầm quyền rồi cũng làm cho dân thất vọng khi thấy Gia Long cũng lừa dối, trả thù và việc cai trị còn tệ hơn trước: "Vậy quân Tây Sơn đã thua mà vua Nguyễn Ánh đã lấy đặng cả nước Annam thì thiên hạ vui mừng lắm. Dân sự thì trông vào Nguyễn Ánh đặt nhà Lê mà trị nước lại như khi trước, nhưng mà ông Nguyễn Ánh chỉ nói phỉnh người ta rằng mình đánh giặc thì chẳng có ý lo phần riêng mình mà thôi, song cũng có ý cứu giúp nhà Lê nữa. Vua có ý khử trừ cho tuyệt giặc Tây Sơn, thì đã luận vua Bảo Hung phải ngũ mã phân thây, còn các em và tông tộc ông ấy đều phải chết chém, quan Thiếu Phó Đoàn phải voi đánh, còn các quan lớn nhỏ khác cũng đều phải luận phạt nặng nhẹ tùy người... Thiên hạ chẳng đặng y như đều đã trông, mà lại thấy việc quan nặng nề hơn trước thì phàn nàn lắm...".

Quan điểm quần chúng còn được thể hiện qua cách dùng từ gọi những người lãnh đạo hoặc trong nội bộ Công giáo hay ngoài lãnh vực xã hội, chính trị, bằng những tên thân mật, gần gũi mà người đương thời đã dùng (Thầy Vêrô chỉ Giám mục Bá Đa Lộc).

Những sự kiện ít người biết:

Thời kỳ đầu của Nguyễn Ánh, lúc bị Tây Sơn rượt đánh cho đến nay là một khoảng trống trong sử vì ít ai biết rõ. Các sử gia nhà Nguyễn cũng im lặng vì có lẽ lúc đó là thời kỳ đen tối, chẳng hay ho gì, như sử Tân Định đã nhận xét: Nguyễn Ánh lúc đó chẳng có ai giúp, cũng chẳng tin vào ai, vì dân chúng có cảm tình với cuộc khởi nghĩa của Tây Sơn. Sử gia nhà Nguyễn (viết vào thời Minh Mạng, Tự Đức) cũng không thích kể lại chuyện Công giáo giúp đỡ Nguyễn Ánh, đặc biệt cái ơn cứu tử lúc Nguyễn Ánh cùng đường do Hồ Văn Nghi, sau làm Linh mục thường được gọi là Thầy Phaolô, chỉ vì lòng nhân đạo, không phải vì ý đồ chính trị gì.

Những trận đánh đầu tiên giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn, cho đến nay, ít được biết đến đã được kể lại trong cuốn Sử Tân Định này.

Chẳng hạn trận Nguyễn Ánh đánh du kích Tây Sơn. Quân Tây Sơn chết ít nhưng vì nghe tiếng nổ lớn, sợ bỏ chạy. Đó là những trái phá của một người Tây đầu tiên giúp Nguyễn Ánh sáng chế theo kỹ thuật Tây phương. Chàng Jean này có vẻ chỉ là một người phiêu lưu vô vị lợi, không vì tấc đất hay vàng bạc mà giúp Nguyễn Ánh...

Sử Đàng Trong:

Mặc dù ở phần đầu của quốc sử, có phần tiểu dẫn viết chung về lịch sử cả nước, nhưng tác giả hầu như chỉ chú trọng đến Đàng Trong. Do đó có thể gọi không sai lắm Sử ký Đại Nam Việt là Sử ký Đàng Trong 1737 - 1802.

ANNAM SỬ TRUYỆN

Nguyễn Văn Sanh

Nhận xét:

Annam sử truyện là một tác phẩm chưa hoàn thành:

1. Nó chưa được in thành sách.

2. Tác giả chưa viết xong.

Annam sử truyện được đăng trong tuần báo Nam Kỳ địa phận Semaine réligieuse, Imprimerie de la Mission, Saigon TânDinh. Bắt đầu đăng từ số 209 ngày 2-1-1913 và ngưng đột ngột sau số, 337 ngày 8-7-1915. Trong 3 năm đó số kỳ đăng không đều và giảm dần với thời gian. Năm 1913, tác giả đăng 19 kỳ, sang năm 1914 còn 9 kỳ, tới năm 1915 còn có 6 kỳ (kỳ chót mang đề mục VII. Nói về Cao Miên và Xiêm trong lúc Nguyễn Ánh, và hết kỳ này vẫn để "sẽ tiếp").

Sự kiện đó cho phép chúng ta suy diễn là Nguyễn Sanh soạn đến đâu đưa đăng tải đến đó. Còn tại sao ngưng ngang thì chúng ta chưa được biết.

- Về bố cục, tác giả chia cuốn sử của mình làm nhiều kỳ đánh dấu số La mã. Tên gọi mỗi kỳ có lúc đề rõ, có lúc không. Thí dụ kỳ thứ nhất và kỳ thứ hai chỉ có một nhan đề bằng chữ Pháp Annales Annamites: Epoque des Fables. Kỳ thứ ba có nhan đề: Kể sử nước Nam Việt phải mất từ năm 111 trước Giáng sinh cho đến 968 sau Giáng sinh. Kỳ thứ 4 không có nhan đề, chỉ mở đầu bằng một hàng chữ in nghiêng "Kể từ Nhà Đinh trị nước Annam, đoạn nhường lại cho nhà Lê, từ năm 908 cho đến 1009", và vẫn trong kỳ thứ 4, tác giả có đưa ra đề mục: "Kể từ nhà Lý tục vị cho đến nhà Trần 1009 đến 1225. Kỳ thứ V có nhan đề: Kể tích nhà Lý tục vị cho đến nhà Trần 1009 đến 1225. Kỳ thứ VI không có nhan đề. Kỳ thứ VII mở đầu bằng tiểu mục Nhà Hồ tiếm vị và cuối đời nhà Trần từ 1400 đến 1410... Kỳ chót mang đề mục như đã nêu trên.

(Việc mục lục thiếu rõ ràng, có thể nói là chưa đâu vào đâu này, là một lý do nữa cho chúng ta có thể tin rằng tác giả soạn đến đâu đưa đăng báo đến đó).

Ngoài khuyết điểm mục lục phân minh, Annam sử truyện có những điểm đáng chú ý về mặt sử liệu và cách viết.

Về tư liệu:

Về tư liệu, Nguyễn Văn Sanh đáng khen. Ông đã cung cấp các tư liệu đối chiếu với các cuốn sử đoạn về sau, không kém phần chính xác. Và ở nơi ông cũng như ở một số nhà viết sử Thiên chúa giáo khác, chúng ta thấy ông quan tâm đến các nước lân bang hơn. Bởi thế trong phần nói về cuộc chiến tranh sống còn giữa hai nước Việt Nam - Chiêm Thành, ông đã cho ta các hiểu biết sau:

1. Về gốc tích:

Ta phải lược sơ qua gốc tích nước Chiêm Thành, tục gọi là Chàm, Hồi và sử cũng gọi là Thuận Thiềng, mà hầu hết gọi là Lâm ấp, nhơn trong sử hay nói đến việc đánh giặc cùng nước ấy, lại vì chính đất Trung Kỳ xưa thuộc về nó, còn Nam Kỳ thuộc Cao Miên...

Vậy cứ theo sử truyền, thì thấy gốc nước Lâm Ấp là một thứ dân Chà Và (4), bởi cù lao Sumatra, hoặc bởi dọc đất theo miền kề Hạ Châu (Presqu'ile, de Malacca), Phổ Mới giáp dải nước Xiêm mà đến. Ban đầu nó là quân ăn cướp như quân Tàu O, nó loạn vào cù lao Cônnôn (Poulo Condor) lần hồi nó vào đến Cao Miên, đoạn ở Nam Kỳ và lần ra Trung Kỳ cho đến Quảng Bình mà cướp bóc của cải và cùng bắt người ta về làm tôi làm mọi nó...

2. Về tôn giáo, phong tục:

Đạo nó giữ là một ngành đạo Brahma trong nước Thiên trước (5), cũng có pha đạo Mahômet vô ít nhiều. Nó chia làm hai đạo: một thứ thì cữ thịt heo mà ăn thịt bò, còn một thứ cữ bò ăn heo, thú trước chết thì chôn, thú kia chết rồi thì thiêu xác.

Thầy đạo phía cữ thịt bò mà ăn thịt heo và thiêu xác thì gọi là Thầy Bồ Xế, và trong phía đạo ấy có ai nghèo không đủ của đặng thiêu xác khi chết, thì cả bộ tộc phải chịu giùm, cũng có khi chôn đỡ ít lâu rồi thiêu, khi thiêu thì có nhiều lễ phép lắm.

Còn thầy đạo phía cữ thịt heo mà ăn thịt bò, thì gọi là Thầy Chang, khi có ai chết thì rước thầy đưa đi chôn, cũng giữ lễ phép như sau này: Xác kẻ chết không liệm trong hòm như ta, khiêng đi trần mà thôi, và chẳng đào huyện sẵn, song khi đem xác đến nơi, thầy Chang cầm gậy vẽ hình cái huyệt, đoạn thầy ấy lấy cuốc mà đào ít nhiều, rồi người ta xúm đào cho thành huyệt. Khi hạ xác xuống thì để cho nằm ngửa trên tấm ván, đoạn thầy Chang bước xuống tay đỡ xác nằm nghiêng lại và hốt đất mà ém cho vững, đoạn bà con xúm nhau lấy chăn vải v.v... đắp phủ cho kín...

Về cách viết:

Về cách viết của Nguyễn Văn Sanh, chúng ta thấy các điểm chú ý sau:

1. Chịu ảnh hưởng của lối viết truyện Tàu cổ điển: Gần như là đến cuối mỗi triều đại hay một đời vua đáng chú ý, tác giả lại làm bài thơ Đường luật để ghi lại cảm nghĩ, phê phán của mình - thường là thơ tứ tuyệt:

Thí dụ như sau đoạn kể lại việc Ngô Quyền dựng nước, tác giả "Xin tặng một thi" như sau:

Ái quốc trung quân bực thánh hiền,

Cứu dân độ thế nọ Ngô Quyền

Ra oai trăm trận trừ Quân Chệc

Thẳng phép một phen diệt lão Tiền (6)

Quan lại chỉ truyền điều luật lệ

Nông phu thức giục nghiệp điền viên

Thiên thu những tưởng giang sơn vững

Nhứt khắc nào hay thế cuộc nghiêng.

Thí dụ khác: Khi Chế Bồng Nga áp đảo Thăng Long. Tác giả ghi lại cảnh vua tôi cùng khóc trước khi xuất quân như sau:

"Vua già Nghệ Tông thấy công việc ngày càng tệ, mới vời quan Trần Khắc Chơn (7), khuyên đem binh ra đánh dẹp lũ Xiêm Thành, quan ấy cực chẳng đã phải cúi vưng chịu, song hai hàng nước mắt chảy xuống ròng ròng, vì thấy cơ đồ hư quá đỗi, trong nội nịnh thần, ngoài quân có quan Nguyễn Diệu phản quân, binh lính chẳng bao lăm, lương phạn thì cũng ít, nên quan tướng ấy lãnh mạng ra chiến trường song hai nàng châu lụy.

Vua già Nghệ Tông xem thấy tướng Trần Khắc Chơn sa nước mắt, thì cũng động lòng, bèn lại ôm quan ấy, cả hai ông đều khóc.

Than rằng: Cơ dinh đồ trận thấy mà rầu

Xuất chiến anh hùng lụy thấm bầu

Thần nịnh trong triều ai hại được?

Tôi toàn ngoài quân biết làm sao?

2. Có khả năng diễn giải một cách khoa học những huyền thoại hoặc một số sự việc loại dã sử.

Thí dụ như đoạn mở đầu cuốn sử, tác giả kể lại nguồn gốc nước ta như sau:

"Đời vua Đế Minh là cháu chắt vua Thần Nông, thống trị cả nước Tàu, khi già thì chia cho thái tử tên là Lộc Tục một phần lớn Qui Nam nước Tàu cho đến sông Dương Tử Giang. Dân bản thổ miền xứ ấy nước da vàng vàng đỏ đỏ, nên gọi là Xích Quỉ.

Thái Tử Lộc Tục lấy hiệu là Kinh Dương Vương mà cai trị miền Xích Quỉ ấy, và sau thì trối lại cho con là Lạc Long Quân.

Và ông Lạc Long Quân đã kết bạn cùng một nàng tiên nga tên là Âu Cơ, cực kỳ xinh đẹp mà cũng cực kỳ mị mộng, vì người dương thế được cưới làm vợ.

Ban đầu chia làm hai phe, gọi là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Vậy cả Sơn Tinh và Thủy Tinh phần cõi nước Nam nước Tàu từ biển đến Dương Tử Giang làm một trăm phần, sử gọi là Bá Việt. Và trong trăm phần ấy, thì có một phần gọi là Giao Chỉ... Sau gọi là Văn Lang, rồi gọi là Nam Việt, sau hết gọi là Annam...

Trong mấy tướng (Sơn Tinh, Thủy Tinh) ấy thì ông Hồng Vương cai phần đất Giao Chỉ, mà bởi ông ấy giỏi và khôn ngoan, mở mang việc phong hỏa và văn minh trong nước, nên đời ấy gọi Giao Chỉ là triều Văn Lang, ấy gốc nhà Hồng trị nước Giao Chỉ là làm vậy...

Trong đời vua nhà Hồng trị Giao Chỉ, thì có một đời phải giặc giã rất dữ và rất kỳ. Số là có một nàng công chúa tên là Mị Nương dung nhan tài đức gồm đủ, những anh hùng phía Sơn Tinh và Thủy Tinh đưa nhau mà đi tới. Vua lưỡng lự chưa biết gả cho ai, vì thấy tên nào cũng hữu tài, sau hết một tên kia gọi là Tiển Giám về phía Sơn Tinh cướp được.

Các anh hùng phía Thủy Tinh tức giận, quyết báo thù Sơn Tinh, bèn hội nhau đem binh lên chiến đấu, mà bên Thủy Tinh phải thua vùng vỡ chạy...

Trong phần kế tiếp, tác giả chú giải thêm nguyên nhân trận chiến đó: Sự hậu hỗn điền thổ là vạn cổ chi thù, bởi cha nàng Mị Nương trước có chịu lời với Thủy Tinh sao đó, mà sau đó lại gả nàng ấy cho Tiên Giám là phía Sơn Tinh, nên bên kia tức giận thành ra oán hận và Sơn Tinh, Thủy Tinh chẳng qua là "Còn một trăm tướng giúp ông Lạc Long Quân, năm mươi ngữ phía đông, gọi là Thủy Tinh, năm mươi ngữ phía Tây gọi là Sơn Tinh" và Thục Phán sau này đánh bại An Dương Vương, chính là "con cháu phe Thủy Tinh nhớ cừu hận xưa, đem binh đánh phá nhà Hồng dữ lắm".

3. Có phê phán đứng trên quan điểm Thiên chúa giáo?

Cần phải nói rõ Nguyễn Văn Sanh viết sử một cách bình thường, không như tác giả sử ký Đại Nam Việt (Imprimerie de la Mission à Tân Định 1909 Saigon) mang nặng và rõ ràng quan điểm Thiên chúa giáo. Ở Nguyễn Văn Sanh, ảnh hưởng Thiên chúa giáo chỉ biểu hiện khi tác giả phê phán một nhân vật hay một triều đại thôi.

Thí dụ: Lý Thái Tông đánh thắng Chiêm Thành, giết được vua Chiêm là Sạ Đầu. Tác giả ghi như sau:

Bây giờ có một người chặt đầu vua Sạ Đầu, xách đem dâng cho vua Thái Tông (Phật Ma), vua thấy đầu kẻ nghịch, bèn động lòng sa nước mắt, và lên hiệu thâu binh, chẳng cho đuổi theo và chém giết quân giặc nữa, cùng dạy mai táng xác vua Sạ Đầu cho xứng đáng vị vương.

Ấy ta coi vua ngoại đạo này còn biết giữ lời DCG đã phán:

"Bay hãy yêu kẻ ghét bay và làm ơn cho kẻ làm khốn bay".

Thí dụ 2: Phê phán Lý Nhân Tông khi chết:

Bởi vua nhờ mẹ khôn ngoan và các quan văn võ trung chính, nên được danh tiếng vang lừng, thắng quên chệc ghe phen, bắt vua Xiêm Thành hàng năm tiến công v.v... lại sống lâu cai trị cũng lâu hơn các vua nhà Lý, thật quả như lời chúa phán: Mày hãy thảo kính cha mẹ, thì sẽ đặng sống lâu cùng an nhàn thạnh sự (Deult. V.16).

Nói chung ảnh hưởng Thiên chúa giáo không quan trọng lắm. Nếu ta bôi bỏ các lời phê phán đã nêu trên thì Annam sử truyện trở thành bình thường ngay.

4. Nguyễn Văn Sanh là một nhà kể sử có tài và quyến rũ vì vui vẻ:

Trong "Lời báo trước" mở đầu cho cuốn sử, tác giả đã viết: "Vốn dân nước nào cũng muốn biết sử truyện trong nước mình đặng kể lại cho con cháu nghe cho vui nên tôi lược chép sử truyện Annam cho ai nấy xem cho biết".

Tưởng đó chỉ là lời khiêm tốn thông thường của các tác giả, nhưng Nguyễn Văn Sanh làm thật và làm rất được. Chúng ta hãy coi vào đoạn tiêu biểu:

Thí dụ 1: Truyện Trọng Thủy - Mỵ Châu:

Thế thường lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, công chúa lớn khôn lầm lẫn, thấy Trọng Thủy là anh tài bèn đem lòng trăng gió, còn Trọng Thủy thấy Mỵ Châu hồng nhan, cũng có tình bướm ong, nhưng vậy, các hữu kỳ phận, ai ở lầu ấy chẳng hề lỗi chữ trung trinh.

Ngày kia Trọng Thủy gặp công chúa, thì khép nép tỏ lòng cung kính lắm, công chúa thấy vậy thì tỏ lòng thiết cốt, chuyện vãn lân la. Thừa dịp ấy Trọng Thủy hỏi thăm cái cung thiêng hữu của vua ra thế nào, và xin phép cho coi một chút...

Thí dụ 2: Việc Đinh Liễn giết em:

Số là ông Đinh Liễn đã có chức Nam Việt Vương của vua Đinh Tiên Hoàng ban, song thấy em là Hạng Long, vua cha cho chức Thái tử, sợ sau Tiên Hoàng có sấp lưng cưỡi hạc, em sẽ lên chức Hoàng đế chăng nên đã lén bỏ thuốc độc hại em nhắm mắt tầm tiên...

Thí dụ 3: Lý Nhân Tông và đạo Phật:

Khi Lê đế Long Đỉnh đang hưởng tiệc hoa mà phải qua đò Diêm phủ, thì có một đứa con còn nhỏ lắm, song các triều thần chẳng tôn, lại chọn một quan lớn kia tên là Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế hiệu là Lý Thái Tổ...

Vua Lý Thái Tổ có một người con trai tuổi còn nhỏ ham chơi cung chơi ná, cùng ham cưỡi ngựa lắm, bởi đó vua cha cứ theo tính nết con mà đặt tên là Phật Ma. Nhơn chữ Phật thì nhơn đứng một bên, còn một bên chữ cung và 2 số như 2 cái tên, còn chữ Ma thì Vương một bên, bên kia chữ Mã là ngựa. Ấy là tên vua cha đặt theo tính nết, còn thiệt tên trong bộ là Đức Chánh.

Mà thật kẻ có tên Phật Ma này sau kế vị thì nhờ cung tên và ngựa mà thắng quân nghịch nhiều trận cả thể có danh tiếng trong sử muôn đời, mà cũng vì hai chữ Phật Ma ấy mà sùng đạo Phật quá lắm, nên đã làm cho dân nước Annam nhiễm đạo Thích Ca.

Tạm kết:

ANNAM SỬ TRUYỆN, nếu được hoàn tất và in thành sách trước 1917, chắc chắn sẽ là một cuốn sử có vị trí cao trong sử học Việt Nam. Bởi vì riêng về mặt phổ biến, cuốn sử này rất dễ lôi cuốn quần chúng hơn bất cứ cuốn nào khác kể cả những cuốn sử được soạn sau này.

NAM VIỆT LƯỢC SỬ

của Nguyễn Văn Mai

Nhận xét:

Văn liệu hiện có là ấn bản in năm 1919 tại Saigon. Phần chính gồm 98 trang, phần phụ lục hơn 40 trang. Ấn bản hiện còn bị mất vài trang chót nên không có con số chính xác.

Trang bìa rất rườm rà, nhiều chi tiết. Từ trên xuống dưới, có những chữ sau:

4è mille (8) Giá 0đ75

(4 chữ Hán chỉ tên sách)

NAM VIỆT LƯỢC SỬ

Có đính thêm bản kể các đời Vua Annam đối với các đời Vua Tàu và Lang Sa.

HISTOIRE SOMMAIRE DE L'ANNAM

avec un tableau synchronique des

Souverains d'Annam, de Chine et de France

par

NGUYEN VAN MAI

Instituteur principal Professeur d'Annamite au Collège Chasseloup-Laubat (1). Tous droite reservée - En vente à la librairie J. Viêt - Saigon - Imprimerie et Librairie J. Viet 1919.

<<(1) Giáo viên chính - Giáo sư viết văn tại Trường Trung học Chasseloup-Laubat (nay là Lê Quí Đôn).>>

Lật bìa, trong trang 1, tác giả có ghi thêm một chi tiết bằng Pháp và Việt ngữ.

L'orthographe Quôc ngu adoptée dans cet ouvrage est conforme à celle des dictionnaires Génibrel et Paulus Của.

"Chữ Quốc ngữ trong sách này viết y theo 2 bổn tự điển Genibrel và Paulus Của.

Đến trang 3 là bìa trong, y như bìa ngoài, chỉ thêm một chi tiết là dưới tên tác giả, có ghi thêm "Officier d'Académie"

Nguyễn Văn Mai là một nhà giáo trong biên chế Nhà nước thời Pháp thuộc dạy ở trường Trung học chính của toàn