Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

PL&ĐS : Âm nhạc đường phố - Xẩm Bờ Hồ


PL&ĐS : Âm nhạc đường phố - Xẩm Bờ Hồ Jun 26, '10 3:05 AM
for everyone

Xẩm là âm nhạc đường phố. Nhưng tại sao nó không gắn với một cái đuôi khác mà lại gắn với Bờ Hồ? Lại có người gọi xẩm Tầu điện? Thực ra cách gọi khác nhau nhưng cơ sở để gọi lại không khác: Tầu điện muốn chạy đi đâu thì cũng bắt đầu từ Bờ Hồ và từ đâu về thì cũng dừng ở Bờ Hồ.

Tại sao những người hát xẩm không chọn ga Hàng Cỏ cũng là bến tầu còn đông đúc hơn bến tầu điện? Giản đơn là tầu điện tuy chỉ tối đa có ba toa, chở ít khách hơn nhưng liên tục chuyến đi chuyến về nên khách luôn mới. Còn tầu hoả lại không đi về liên tục, hơn nữa, xuống tầu là người ta về nhà hay đến ngay nơi cần đến. Do vậy bến tầu điện là nơi kiếm tiền thuận hơn chỗ khác chính vì thế dân gian gắn xẩm với tầu điện:

Hà Nội như động tiên sa

Sáu giờ tắt hết đèn xa đèn gần

Vui nhất có Chợ Đồng Xuân

Mùa nào thức ấy xa gần xem mua...

Cổng giữa có chị bán dừa

Hàng cau, hàng quít, hàng dưa, hàng hồng

Ai ơi đứng lại mà trông

Hàng vóc nhiễu thong dong rườm rà

Ngoài chợ có chị hàng hoa

Có ngưòi đổi bạc đi ra đi vào

Nào hàng bún nấu bán rao

Nào hàng kẹo đạn, phở xào, ngô bung

Lại thêm bánh rán kẹo vừng

Rau dưa đủ cả chả thang chả giò

ồn ào chuyện nhỏ chuyện to

Líu lo chú Khách bánh bò bán rao

Xăm xăm ta bước chân vào

Hàng tôm hàng cá xôn xao nhiều bề

Giữa chợ có chị bán lê

Quang quác hàng vịt, say mê hàng gà

Nứt nở là chị hàng na

Chua chát hàng khế, ngọt ra hàng đường

Thơm tho là chị hàng hương

Tanh ngắt hàng cá phô trương hàng vàng

Lôi thôi như chị hàng giang

Vừa đan vừa bán cả sàng cả nia

Trề môi như chị hàng thìa

Hàng bát hàng đĩa phân chia đàng hoàng

Lồng cồng như chị hàng thúng

Thượng vàng hạ cám đủ cùng thiếu chi

Cải hoa, cải bắp, cải thìa

Thơm mùi húng Láng thức gì cũng bán mua

Hay cắp như chị hàng cua

Nhảy nhót hàng ếch ai mua được rày

Có người bán dép bán giầy

Có người cạo mặt, ngoáy tai đông đầy

Có người xem tướng xem tay

Chầu văn đồng bóng ốp ngay tức thời

Thôi thì đủ thứ đủ người

ồn ào nhộn nhịp, nói cười chen vai

Có anh bán thuốc cũng hay

Mồm rao liến láu, bệnh khỏi ngay tức thì

Lại những kẻ cắp như rươi

Hở cơ chốc lát liền ôi mất rồi

Dậm chân xuống đất kêu trời

Cu-lít (cảnh sát) có đến cũng thôi đi đời

Tôi đến đuổi chợ mình ơi

Vừa năm giờ rưỡi hết người bán mua.

Lại có bài "Vui nhất Hà thành" kể tên 36 phố phường:

Bắc Kỳ vui nhất Hà thành

Phố phường sầm uất văn minh rợp trời

Thanh tao lịch sự đủ mùi

Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy

Đâu đâu khắp hết Đông Tây

Thăng Long thắng địa xưa nay tiếng đồn

Cũ thời băm sau phố phường

Ngày nay mở rộng đến hàng vài trăm

Người đi xe chạy ầm ầm

Đua chen thương mại bội phần hơn xưa

Nhất vui là cảnh Bờ Hồ

Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Bồ, Hàng Ngang

Mã Mây, Phố Mới, Hàng Vàng

Đồng Xuân, Hàng Giấy, Hàng Buồm vui thay

Bán buôn tấp nập đêm ngày

ô tô đi lại như bay ngoài đường

Đua chen trong chốn thị trường

Hiệu buôn Khách bán cửa hàng người  Nam

Bày ra đủ các thức hàng

Hàng Tây hàng Nhật với hàng Trung Hoa

Lại hàng nội hoá đủ là

Ngày rày xuất cảng, kể đà hơn xưa

âởy là kể những phố to

Còn như Hàng Quạt, Hàng Lờ, Hàng Da

Cửa Nam, Hàng Lọng, phố Ga

Hà Trung, ngõ Trạm, Hàng Gà, Cửa Đông

Hàng Cân, Hàng Cót, Hàng Đồng

Hàng Men, Hàng Bát, Hàng Bông, Hàng Bài

Hàng Cau, Hàng Bột, Hàng Khoai

Hàng Nâu, Hàng Trứng, Hàng Gai, Hàng Mành

Hàng Tre, Lò Sũ, Hàng Hành

Phúc Châu, Cầu Gõ, Bắc Ninh, Hàng Hòm

Mới đà kể hết phố con

Của người bản xứ bán buôn nơi rày

Còn như đường lớn phố Tây

Tràng Tiền, Đồng Khánh, Hàng Khay, Nhà Thờ

Nhất vui là hiệu Gô -đa

Ra vào nhộn nhịp ai mà chẳng hay

Tràng Tiền có rạp Hát Tây

Bên kia Đồn Thuỷ, bên này Nhà Đoan

Vườn hoa Con Cóc trông sang

Là Dinh Thống sứ Xẩm càng tránh xa

Tượng Tây đứng giữa vườn hoa

Bên này Đốc, Lý trông ra Bờ Hồ

Kể cả phố xá bây giờ

Phồn hoa đệ nhất kinh đô Bắc Kỳ

Văn minh đèn điện sáng loè

Thông thương kỹ nghệ mọi nghề chấn hưng

Chỉ cánh áo ngắn khốn cùng

Làm lụng suốt tháng vẫn không đủ dùng

Bữa cơm bữa cháo nhạt nhùng

Thời đành nheo nhóc bọc đùm lấy nhau.

Khi sân khấu hát xẩm xuất hiện trên khu phố đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân từ đầu tháng 4/2006, bỗng nhiên người ta thấy xẩm vẫn còn duyên và mặn mà lắm. Nhạc sỹ Thao Giang, chủ nhiệm chương trình âm nhạc dân gian "Hà Nội 36 phố phường" và cũng là người có công sưu tầm, khôi phục lại nghệ thuật hát xẩm cho rằng, cách buôn bán các cửa hàng có thể thay đổi nhưng hồn của bài hát vẫn ở trong tâm thức mỗi người khi họ nghe xẩm. Để phục vụ cho chương trình này, nhóm "Xẩm Hà Nội" đã sưu tầm được khoảng hai mươi điệu. Ngoài những điệu được phổ từ thơ của Nguyễn Khuyến, á Nam Trần Tuấn Khải, Nguyễn Bính, như: Mục Hà vô nhân, Anh khoá, Lỡ bước sang ngang, Trăng sáng vườn chè... thì còn nhiều điệu khác, trong đó khá đặc sắc chính là "Xẩm Tàu điện" do nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa trình bày. "Xẩm Tàu điện" đặc sắc bởi đây chính là điệu xẩm của riêng Hà Nội. Nếu ca trù, hát cô đầu là "đặc trưng" của phố Khâm Thiên, thì hát xẩm là đặc trưng của chợ Đồng Xuân và phố cổ. Những nghệ sĩ yêu xẩm phải kể đến NSưT Xuân Hoạch (Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam), Văn Tý (Viện Văn hóa dân gian), Thanh Ngoan (Nhà hát chèo Việt Nam), Đoàn Thanh Bình (Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh), cô "xẩm trẻ" Mai Tuyết Hoa (Viện âm nhạc)... cùng các nhạc sỹ Hạnh Nhân, Hồng Thái, Lê Cương, Tự Cường... đã tập hợp về Trung tâm Phát triển Nghệ thuật âm nhạc Việt Nam của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Khang và nhạc sĩ Thao Giang từ năm 2003.

Theo các nhà nghiên cứu, "xẩm" đồng nghĩa với từ "sờ" được nói chệch đi để chỉ động tác "sờ soạng" của những người không may mắn bị mù loà, khiếm thị. Người mắt sáng nếu chậm chạp thường bị mắng "Dờ dẫm như xẩm sờ...". Ta vẫn thường nói "xẩm tối", nghĩa là thời gian vào cuối buổi chiều, ánh nắng tắt dần, trời sắp tối, chỉ sự lu mờ, thiếu ánh sáng, tối tăm của không gian. Như vậy, có thể nói, hát xẩm là một loại hình nghệ thuật ca nhạc dân gian truyền thống mang tính chuyên nghiệp của những người khiếm thị. Trong cuốn Việt Nam Phong tục (Nhà sách Khai Trí - 1973, trang 402, mục Hát Xẩm) của Phan Kế Bính thì "Hát xẩm gồm tập hợp những người mù mắt từ năm hoặc sáu người học nghề đàn hát, cả đàn ông, đàn bà dắt nhau đến các nơi thành thị, kiếm chỗ đông người, trải chiếu ngay các nơi vệ đường mà hát. Trong hát xẩm, người thì đánh trống, gõ phách, người thì kéo nhị, người gẩy đàn bầu, rồi đồng thanh mà hát, hoặc đi giọng Nam, hoặc đi giọng Bắc, đi theo tiếng nhị, tiếng đàn nghe cũng vui tai. Đàn bà, trẻ con, người lớn xúm xít vào xem, có người thưởng dăm ba đồng kẽm, có người thưởng vài xu". Còn trong cuốn Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam do Viện Nghiên cứu âm nhạc xuất bản năm 1996, tác giả Nguyễn Viêm viết "Hát xẩm là một nghề sinh nhai của người mù, nghề ấy chính là một kế cứu kẻ tàn tật. Ban đầu hát xẩm còn sơ lược, chỉ vận làn xẩm vào trong vài câu ca dao đơn giản. Nhưng dần dần do yêu cầu của người nghe, hát xẩm đã tiến tới trọn một đoạn dài với nội dung hấp dẫn đến vài chục câu, có khi hát cả một câu chuyện kéo dài đến hết cả một buổi".

Xẩm là những bài hát được "phổ" từ các bài thơ đơn giản nhưng súc tích và giàu tính tự sự. Trong quá trình phổ biến lối hát xẩm, có những người mù hoặc nghèo khổ song rất có năng khiếu về âm nhạc đã vận hụng hát xẩm làm phương tiện kiếm sống. Cây nhị, bộ gõ và tiếng hát chất chứa những nỗi niềm tâm sự đủ để lay động lòng trắc ẩn của người đời... Và như thế, vô hình trung, xẩm trở thành "đặc sản" của người ăn xin và hầu như chỉ lưu truyền trong giới "cái bang". Lượng người hát xẩm đông nhất là thời kỳ Pháp thuộc và những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Song hưng thịnh nhất lại là năm 1954. Thực ra những bài hát xẩm không phải chỉ là hát về tâm trạng của người mù, sáng tạo nghệ thuật của họ là nói về nhân tình thế thái. Nhưng họ là những người tạo nên nét đặc trưng cho nghệ thuật hát xẩm. Nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ, người có hơn hai mươi năm nghiên cứu về xẩm cho rằng không cần ăn xin, nhưng phải là người mù mới có thể hát xẩm hay. Chính người mù mới tạo nên những âm điệu riêng, đặc sắc vì họ cảm nhận cuộc sống qua đôi tai. Khuyết tật giác quan của họ khiến mọi người dễ cảm thông. Khi hát đúng tâm trạng người dân, họ càng được yêu mến, ngưỡng mộ.

Truyền thuyết kể rằng, vào thế kỷ XIII, Hoàng tử Trần Quốc Đĩnh bị người em trai đâm mù mắt giữa rừng xanh, đoạt ngọc quý để chiếm ngôi vua. Trong cơn mê sảng, Đĩnh mơ thấy mình được ca hát với một bầy tiên nữ trong tiếng nhạc tưng bừng... Tỉnh dậy, mới biết là mình được những người dân quê thôn dã hết lòng chăm sóc. Qua cơn hoạn nạn, nhớ lại giấc mơ và tỏ lòng báo đáp dân làng, Đĩnh đã lần mò tự tay chế tác cây đàn bằng một ống tre dài, có cần mềm để nắn tác cây đàn bằng một ống tre dài, có cần mềm để nắn tiếng chỉnh âm, lại có dây xe bằng vỏ cây và có que để bật, gõ thành tiếng nhạc. Chàng còn soạn ra cả những bài thơ để hát, kể lể tâm tình của mình, của đời mang niềm vui đến với mọi người, mọi nhà, tay đàn miệng hát khắp mọi nơi, từ bến sông, bãi chợ, sân đình... Tiếng tăm của chàng ca sĩ mù vang đến tận kinh thành, Thượng Hoàng cho vời vào cung, mới hay đó chính là Hoàng tử mất tích năm nào... Từ đấy, Đĩnh ra sức dạy dỗ cho mọi người đàn hát, nhất là những người khiếm thị, vừa là để vui đời, vừa là nghiệm mưu sinh...

Thành ra, hát xẩm từ yêu cầu của khách thưởng thức đòi hỏi người theo nghề phải thể hiện nội dung ngày một mở rộng (câu hát dài hơn, tích chuyện đi sâu hơn, nhân vật nhiều hơn,...) nên mặc dù trong tình cảnh mù loà, ngồi một chỗ vừa hát, đàn vừa làm điệu bộ, nó cũng gia tăng làn điệu với sắc thái liên quan nhiều đến kết cấu làn điệu của hát chèo, cũng có thể xâme ra đời trước khi có hát chèo, là một trong nhiều nguồn góp phần cấu thành hát chèo. Hoặc xẩm chỉ là bản sao vụng về của hát chèo trong điều kiện và hoàn cảnh rất ư hạn chế của lớp người tật nguyền; hoặc đây là mối liên quan ruột rà tất yếu không ai chối cãi giữa hai loại hình, bởi chính nghệ nhân xẩm xếp hát xẩm và chèo cùng loại trung ca, trong khi tuồng vào loại võ ca, ca trù vào loại văn ca. Hát xẩm là một thể loại khan xuất hiện ở Hà Nội vào những năm cuối thế kỳ XIX, đầu thế kỷ XX. Người ta thường nói có Xẩm Tầu điện, Xẩm Bến đò, Xẩm chợ... Nhưng đó không phải là những tiêu chí phân loại, vì vấn đề mùa màng, thời tiết... ảnh hưởng đến sự tập trung đông người, do vậy tuỳ theo tháng trong năm, các nhóm xẩm có khi hạt động trên tàu, ở nông thôn, ở chợ... Xẩm có rất nhiều bài, nhưng có 7 bài đặc trưng là Xẩm chợ, Chênh bong, Riềm huê, Ba bậc nhịp bằng, Phồn huê, Hát với ai và Xẩm thập ân với những làn điệu: Xẩm chợ, Xẩm thập ân, Xẩm Tàu điện... Những làn điệu Huê tình, Ba bậc, Hồn huê... ban đầu chỉ có ở xẩm Hà Nội, sau đó đã "loang" ra để có những điệu xẩm Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên... Sau Cách mạng Tháng Tám, xẩm còn được "thời sự hoá". Chẳng hạn để hưởng ứng phong trào bình dân học vụ, các nghệ nhân xẩm đã sáng tác bài "Tiễu trừ giặc dốt" (được trình diễn ở chiếu xẩm Đồng Xuân với lời mới "Tiễu trừ tham nhũng").

Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ, sau Hiệp định Genève, Nhà nước vận động nhiều nhóm hát xẩm, cử người viết bài hát và đến diễn ở các vùng duyên hải miền Bắc nhằm chống lại phong trào di cư vào Nam do Thực dân Pháp lôi kéo. Vài ba chục nghệ nhân hát xẩm ở Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội... đã tham gia cuộc vận động này. Trong một bài viết, nhà phê bình Văn học Vương Trí Nhàn kể là nhà văn Thanh Tịnh được giao phụ trách một nhóm hát xẩm gồm 23 anh chị em khiếm thị về vùng Bùi Chu, Phát Diệm để hát với mục đích trên. Sau khi Thủ đô giải phóng, tại bến tầu điện Bờ Hồ vẫn có khá nhiều người khiếm thị hát xẩm, có một cặp vợ chồng lùn tịt hát rất hay và họ kiếm sống ở đây cho đến khi Mỹ ném bom Hà Nội thì dắt díu nhau đi đâu không rõ. Thập niên 70, loại hình nghệ thuật này mai một rồi đi dần vào quên lãng. Kể từ đó những người hát xẩm không còn được hành nghề nữa, hát xẩm tưởng chừng như đã thất truyền. Thập niên 30 ở bãi An Dương có xóm xẩm. Sở dĩ có tên như vậy bởi xóm có chừng mười nóc nhà gồm toàn những người hát xẩm. Ban ngày đi hát tối lại về nấu nướng ngủ ở đây. Xóm tồn tại đến năm 1954, sau đó thì mỗi người một nơi. Trong những người hát xẩm, không có những qui ước bất thành văn về lãnh địa nhưng nhóm này ngồi chỗ này thì nhóm kia tự biết đi chỗ khác. Giữa họ không bao giờ có ẩu đả tranh giành chỗ hát, vì họ rất hiểu câu nói "Đồng cảnh tương lân".

(PL&ĐS)


Cập nhật, ngày09/06/2010 09:12

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 19302050