Music news from a Vietnamese traditional musician

Category » Nhạc mới

Nguyễn Thanh Giang : Tản mạn về người viết Quốc Ca Việt Nam, phần 2


 
VI.

Này khúc Bồng Lai… và Sông mênh mông như bát ngát hát…

Trịnh Công Sơn - nhạc sĩ thiên tài, người vừa được nhận “Giải thưởng Âm nhạc Hoà bình Thế giới”, một Nobel về âm nhạc, mang tên “Trọn đời vì hoà bình” – đã nói về âm nhạc của Văn Cao như sau: “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư”.

Những trí thức, những thanh niên sục sôi tinh thần cách mạng trước 1945 đã từng cuồng nộ với Hò kéo gỗ Bạch Đằng Giang (1941), Gò Đống Đa (1942), Thăng Long hành khúc (1943)… qua những ca từ hùng dũng: Cố bước bước trên đường thơm gió mát. Ta đi đi đi đi thăm gò xưa chất thây. Đống Đa còn chốn đây…, những Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long! Ơi Thăng Long ngày mai. Xây đắp dưới vinh quang bằng chí khí anh hùng

Các thế hệ học sinh sau Cách mạng Tháng Tám có lẽ không ai không thuộc bài Làng tôi. Ngày 10 tháng 2 năm 1993, sau buổi gặp giữa ông và một số trí thức Việt Nam với tổng thống F. Mitterand, hai câu: Ngày giặc Pháp đốt làng triệt thônNgày khi quân Pháp qua đã được đề nghị đổi thành: Ngày giặc ác đốt làng triệt thôn, và Ngày khi quân ác qua.

Cái tâm trạng khổ đau của người dân mất nước:

Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Sao đàn u hoài gì mùa thu?
Tri âm nghe thử dây đồng vọng
Lạc lõng đêm vàng khi nhạc ru

(Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)

cái khắc khoải mông lung của một trí thức trẻ muốn tìm đường:

Sương buông chừng núi vấn vương
Tiếng chim lạ cất tiêu thương buồn trời

Cái gì cũng thấy chơi vơi…

(Đêm ngàn, 22.11.1941)

có lúc đã đưa Văn Cao, cũng như nhiều trí thức đương thời, tìm đến thoát tục. Ông tìm lại Trương Chi để được sống với Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ. Trầm trầm không gian mới rung thành tơ. Vương vất heo may hoa yến mong chờ. Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ (Trương Chi – 1942 ). Ông đến Bến Xuân (một trong mấy ca khúc viết chung với Phạm Duy), bước đi run rẩy:

Tới đây, chân bước còn ngập ngừng
Mắt em như dáng thuyền soi nước

…Tới đây, mây núi đồi chập chùng
Liễu dương hơ tóc vàng trong nắng

Ông thả lòng trong Chiều buồn trên sông Bạch Đằng:

Chiều dần rơi sương buông non ngàn xa trầm ngâm trên sông vắng
Bạch Đằng Giang sầu mơ bên lau xanh với bến nước xa xôi
Thuyền ai kia trôi theo dòng sông xanh không vang một tiếng người
Buồn ai đứng nhìn con sông xanh biếc ngày xưa mà nước mắt mờ rơi

Ông cứ thế, lang thang buồn rồi lạc vào Thiên Thai khi 18 tuổi. Song, nỗi buồn ông cao quý quá, đẹp quá. Nó vút lên thành: Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng

Để ca ngợi Thiên Thai một cách muộn mằn, khiên cưỡng, Trần Bạch Đằng, cho đến năm 1986, mà còn viết: “…nếu hiện nay, Văn Cao vừa sáng tác xong bài Thiên Thai thì… đè anh xuống mà nện. Còn nửa thế kỷ trước, đó là chuyện khác ”.

Tôi thấy khó mà đồng ý được với ông Trần Bạch Đằng. Thiên Thai lúc nào cũng là Thiên Thai. Cái chốn tràn trề những nguồn hương duyên theo gió tiếng đàn xao xuyến, cái chốn Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần kia luôn luôn là niềm mộng tưởng trong sáng; là mục tiêu tột cùng của cách mạng. Tôi ước sao thanh niên ngày nay biết mê Thiên Thai để bớt sài hồng phiến, rủ nhau lao vào nhẩy xếch thác loạn; bớt lôi kéo nhau vật lộn điên cuồng làm giầu bằng mọi giá; và tán tụng hết lối ẩm thực phương Đông đến lối ẩm thực phương Tây.

Hát Thiên Thai, tôi nghĩ, sẽ cũng là một cách thiền để người ta vượt được lên trên những dục vọng vật chất tầm thường.

Vả chăng, dù có lạc vào Đào Nguyên thì Văn Cao vẫn tỉnh táo nhìn thấy Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian; vẫn ngậm ngùi cùng bầy Tiên: Nhớ quê chiều nào xa khơi. Chắc không đường về Tiên nữ ơi kia mà. Nó cũng giông như Tản Đà: “Nửa năm Tiên cảnh. Một bước trần ai. Ước cũ, duyên thừa có thế thôi!”

Giai điệu Thiên Thai biến hoá diệu kỳ, khiến người nghe thấy “Khi cao vút tận mây mờ. Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh”. Ngân lên câu hát Gió hát trầm tiếng ca. Tiếng phách ròn lắng xa hay Này khúc Bồng Lai, là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi… người ta tưởng như đang được tấu lên những tiết điệu réo rắt của ca trù tuyệt diệu.

Tuy nhiên có nhạc sĩ lại liên tưởng Thiên Thai với nhạc phẩm trữ tình nổi tiếng cuả nhạc sĩ Pháp hiện đại Debussy và cho rằng, trước Văn Cao, những tác giả ca khúc Việt Nam khác, chưa ai tổ chức ca khúc trên một hình thức mở rộng như thế và mang chứa một nội dung phóng khoáng như thế.

Thiên Thai được biểu diễn lần đầu tại Nhà Hát Lớn Thủ đô do tốp ca nữ trường Đồng Khánh (Trường Trưng Vương ngày nay), có phần múa phụ hoạ do nhạc sĩ Văn Chung biên đạo và dàn dựng. Nhờ bản dịch tiếng Anh của Xuân Oanh, bài hát được lan truyền đến nhiều nơi trên thế giới và là bài hát Việt Nam đầu tiên được người Mỹ hát từ giữa thế kỷ trước. Thiên Thai cũng được chọn đưa vào băng nhạc để các phi hành gia Mỹ đem vào vũ trụ trên tầu Apollo.

Ảo huyền với Thiên Thai nao nao bầu sương khói phủ quanh trời, nghiêng tai vào Bờ xanh ngắt bóng đôi cây thuỳ dương để nghe cho dược con suối mơ hát theo đôi chim quyên, bỗng một ngày Văn Cao ào ạt, tràn trề với Sông Lô đang xuôi mau. Tin về đồng lúa reo mừng..

Xướng lên ngổn ngang những sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u trong câu nhạc mở đầu điệp trùng như không dứt: Sông Lô sóng ngàn Việt Bắc, bãi dài ngô lau, núi rừng âm u rồi hoạ lại mênh mang một Thu ru bến nắng vàng từng nhà mờ biếc chìm một mầu khói thu để rồi ngay sau đó cao độ âm thanh được nâng lên 3 giọng và giữ nguyên qua 4 nốt nhạc như để cất lên dõng dạc lời tuyên cáo: Sông Lô, sóng ngàn kháng chiến cháy bờ lau thưa đã tàn thôn trang; trường ca Sông Lô như một bài hịch, như một cuốn phim, như một bức tranh liên hoàn, như một cuốn truyện nhiều tình tiết hấp dẫn với những: mùa thu tới nước băng qua ngàn nước in ven bờ xanh ôm bóng tre, Phan Lương vui bóng thuyền. Lều dựng lên ven sông, bóng người sầm uất bến Then. Bên sông Lô đắp nhà. Bao dân trong khu Mười, mơ thành người sông Lô; với cảnh hoang tàn: Về trong đêm gió rét. Từng sân bao bóng người quanh lửa hồng. Nền khô trơ than xám. Đêm chìm đợi ánh chiêu dương. Câu nhạc lúc ở trên nguồn cao, lúc lênh láng tràn ra đến biển: Dòng sông Lô trôi. Dòng sông Lô trôi ; lúc dồn dập hành quân chiến đấu hay hăng say lao động: Vui hát ca hoà, vui hát ca hoà dân buông lưới… Vui hát ca hoà, vui hát ca hoà chí chiến đấu; lúc nhởn nhơ thư thái: Đời vui vút lên. Đời vui sướng về

Ở Việt Nam chắc chắn chưa có bài hát nào về một con sông hay đến thế, hào hùng đến thế. So với thế giới hình như cũng vậy. Bài Dòng Danube xanh chỉ tả được cảnh thiên nhiên, ở Sông Lô có cả cảnh chiến đấu và chiến thắng.


VII.

Bản Quốc ca bất hủ

Vào những năm trước Tổng khởi nghĩa, ở chiến khu chưa có bài hát mới nên các chiến sĩ cách mạng thường phải hát những bài hát của hướng đạo. Theo Văn Cao kể, ông viết Tiến quân Ca là theo “đơn đặt hàng ” của một cán bộ bí mật tên là Vũ Quý, để kịp có một ca khúc cách mạng cho khoá quân chính kháng Nhật đầu tiên sắp mở. Vũ Quý vốn đã theo dõi những hoạt động nghệ thuật của Văn Cao từ ít năm trước và đã từng khuyến khích Văn Cao sáng tác những bài hát yêu nước như: Đống Đa, Thăng Long hành khúc, Tiếng rừng… Vũ Quý còn là người đầu tiên trực tiếp đưa Văn Cao vào đội ngũ cách mạng.

Tháng 10-1944, Tiến quân Ca được viết xong tại số nhà 45 Nguyễn Thượng Hiền - Hà Nội. Tháng 11-1944, Văn Cao tự tay viết lên đá để in litô bản Tiến quân Ca trong trang Văn Nghệ đầu tiên của báo Độc Lập. Quốc hội nhất trí xét chọn và ngày 13-8-1945, Tiến quân Ca được chính thức công bố là Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

Vậy là, ngẫu nhiên mà trùng hợp. Cả Rouget de Lisle ở Pháp khi viết Marseillaise cũng như Văn Cao ở Việt Nam khi viết Tiến quân Ca đều không hề nghĩ rằng mình đang viết Quốc ca. Có điều Rouget de Lisle chỉ là một đại uý công binh chứ không trở thành một nhạc sĩ lừng danh như Văn Cao.

Thật ra cái hào khí bừng bừng trong Tiến quân Ca đã được phát khởi từ Gò Đống Đa (1942): “Lời đoàn quân trước trong gió rung bao cờ bay. Còn rền theo trống chiêng lắng khua trong chiều nay. Hỡi dũng sĩ ái quốc ngại gì bao nguy khó. Giữ đất nước thống nhất bao người đang ngóng ta. Tiến quân hành khúc ca. Thét vang rừng núi xa ”; từ Thăng Long hành khúc (1943): “Nhị Hà còn kia. Nhị Hà còn đó. Lũ quân chàng Tôn sập cầu trôi đầy sông. Tháp đây, gươm thần đâu dưới nước biếc… Xây đắp dưới vinh quang bằng chí khí anh hùng…”. Cái khí thế bừng bừng đó càng bột khởi mạnh mẽ trong năm 1945. Chỉ riêng trong một năm Tổng khởi nghĩa này Văn Cao có hàng loạt hành khúc chiến đấu: Không quân Việt Nam, Bài ca chiến sĩ hải quân, Chiến sĩ Việt Nam, Bắc Sơn, Công nhân Việt Nam. Cái hùng khí cách mạng rầt mạnh mẽ, rất quyết liệt nhưng cũng rất lãng mạn trong những hành khúc này còn thôi thúc mãi trong tâm tưởng thế hệ chúng tôi và âm vang của nó hẳn sẽ còn làm khoẻ mạnh tinh thần nhiều thế hệ sau nữa.

Thế mà! Không biết do không ưa tác giả hay do không đủ tâm, đủ trí chiêm nghiệm nổi cái giá trị lịch sử, cái hồn thiêng khí phách của bài Tiến quân Ca bất hủ mà bỗng dưng người ta ra Nghị quyết và ầm ầm tổ chức thi sáng tác quốc ca để thay thế. Trong cuộc vận động sáng tác rầm rộ này người ta đã chọn ra 17 bài trong vòng sơ khảo. Tất cả đều được ấn hành với số lượng lớn và Đài Phát thanh đã phát oang oang trên cả nước suốt một thời gian dài.

Phấn khích bởi sự khích lệ rộn rã của hệ thống tuyên truyền, người viết bài này cũng đã từng hồ hởi tham gia. Bài “quốc ca” của kẻ ngạo mạn này không được chọn vào vòng nào cả. Có chăng chỉ được vài anh chị em tập và hát nghêu ngao trong cơ quan. Bây giờ nghĩ lại thấy xấu hổ quá!

Trộm nghĩ, nếu không muốn dùng Tiến quân Ca nữa thì còn một bài ca khác cũng rất xứng đáng sử dụng làm Quốc ca. Nhưng, bài đó cũng chính là của… Văn Cao, bài Chiến sĩ Việt Nam. Ở bài Chiến sĩ Việt Nam, có một đoạn mà tôi thấy còn thích hơn cả Tiến quân Ca: “Thề phục quốc. Tiến lên Việt Nam! Lập quyền dân Tiến lên Việt Nam! Đài hạnh phúc đắp xây tự do. Việt Nam tranh đấu chống quân ngoại xâm”.

Như là “đồng khí tương cầu”, nhà thơ Phùng Quán cũng đã từng hết lời biểu dương bài Chiến sĩ Việt Nam. Tôi xin được chép lại nguyên văn một bài thơ Phùng Quán nói về Văn Cao, về bài hát này:

Giữa chiến khu võ vàng đói khát
Cả tiểu đội tôi chỉ còn mắt với răng
Như một đồng ca chúng tôi lên cơn sốt rét
Lên cơn sốt rét, Chúa Trời cũng phải rên
Chúng tôi hát:
Bao chiến sĩ anh hùng!…
Có một điều anh không bao giờ ngờ được
Chúng tôi đã cải biên khúc quân hành bão táp của anh
Thành nhạc không lời
Thành một điệu rên…

Cả tiểu đội tôi chỉ một mình tôi còn sống
Những người đã rên theo điệu quân hành của anh
Đã ngã xuống
Như những anh hùng
Trong những bài ca bất tử của anh!…
Những năm tháng trường chinh
Nằm gai nếm mật
Chúng tôi thường mơ đến Anh
Như trẻ nhỏ mơ những anh hùng truyền thuyết
Chúng tôi thường mơ…
Một hôm nào đó
Nhạc sĩ Văn Cao bị bốn bề súng giặc
Chúng tôi sẽ xông ra lấy ngực che đạn cho anh!
Chúng tôi thường mơ…
Trên chiến trường quê hương Trị Thiên
Chúng tôi sẽ đánh một trận lừng danh đất nước
Trên sông Hương, sông Thạch Hãn, sông Bồ…
Để anh về anh viết trường ca
Như trường ca Sông Lô…

Anh Văn Cao
Cuộc đời tôi quá hiếm hoi niềm vui
Hiếm hoi hạnh phúc
Niềm vui lớn nhất
Hạnh phúc lớn nhất
Đời tôi
Là dược gặp Anh!
Được thay mặt những người đồng đội đã khuất
Nói với anh một lời gan ruột:
Tình chúng tôi yêu anh

Chép nguyên xi một bài thơ dài của tác giả khác vào bài viết của mình có thể xem là một sự lạm dụng. Nhưng, tôi thấy bài thơ hay quá, chỉ riêng nó đã nói được hơn nhiều lần về Văn Cao so với bài viết lê thê này. Cho nên tôi vẫn cứ xin chép để sự suy tôn Văn Cao càng được nhân lên.


VIII.

Những dự báo đã thành hiện thực

Tưởng cũng nên hơn một lần nhắc lại rằng Văn Cao không chỉ là một nghệ sĩ tài ba mà còn là một nhà khoa học. Ông luôn cổ vũ, biểu dương cái mới. Ông có tư duy khoa học và diễn giải cũng rất khoa học:

Cái mới đâu phải là những cái không sẵn có. Sự làm mới những cái sẵn có cũng là một phương pháp sáng tạo”, “…Một trong những hướng xây dựng nhân vật là đào tạo cho xã hội những người biết khai thác, khám phá, phân tích thực tế và mở đường cho tương lai” (Mấy ý nghĩ về thơ).

Ông có nhãn quan vượt thời đại, có tầm dự báo chính xác đến ngạc nhiên.

Cách mạng Tháng Tám vừa thành công, ông đã dự báo ngay về những binh chủng hiện đại sẽ có trong lực lượng vũ trang của ta qua Bài ca chiến sĩ hải quân, Không quân Việt Nam. Còn ở chiến khu chống Pháp với những nhóm quân so với quân đội Pháp chỉ như “châu chấu đá voi” mà ông đã hình dung cái buổi tiến về Hà Nội rõ rệt như đang diễn ra trước mắt: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào chảy dòng sương sớm long lanh… Khi đoàn quân tiến về là đêm tan dần. Như mùa xuân xuống cành, đường nghe gió về, Hà Nội bừng Tiến quân Ca ” (Tiến về Hà Nội – 1949). Hát bài hát lên, người hát ngày ấy, khi chưa được trở về Hà Nội, hay bây giờ đều như thấy mình đang thật sung sướng đứng giữa rừng cờ hoa ngày Thủ đô giải phóng.

Điều kỳ lạ hơn là ông không chỉ dự báo lạc quan mà còn cảnh báo được những ẩn hoạ đằng sau tấm huân chương. Ông nói như Kinh Dịch:

Những bó hoa mang tới
chúc tụng
Thành công một con người
Hàng ngày hàng ngày
Xây thành cái mồ chôn
Con người thành công ấy

Đôi khi người ta bị giết
bằng những bó hoa

(Những bó hoa, 17.3.1974)

Điều cảnh báo này không ngờ nghiệm rất đúng ngay cả cho ông Tổng Bí thư Đảng nước ta sau chiến thắng 1975!

Ông nói vừa như về khoa học tự nhiên, vừa như giảng giải triết học:

Tin tất cả và hoài nghi tất cả
Chúng ta là những kẻ chài quen biển
Thấy ngọn lửa quay đầu
Biết bão táp đang trở mình trên mặt sóng

(Những ngày báo hiệu mùa xuân)

Thì ngọn lửa quả đã quay đầu rồi. Quay về kinh tế thị trường, về tư bản hoang dã; chỉ còn cái khẩu hiệu dối lòng được giương lên thật cao: Định hướng xã hội chủ nghiã!

Sau cái chết khó hiểu của Vũ Quý, ông giật mình nhận ra trong cuộc đời, và ngay trong Đảng của ông:

Tôi đã nhìn thấy chung quanh tất cả
Những con người và con vật
Dũng cảm và hèn nhát
Cao quý và ty tiện
Trung thực và bất lương

(Trong mùa xuân đời tôi)

Ông thảng thốt tố cáo:

Trong những ngày khó khăn chồng chất
Kẻ thù của chúng ta xuất hiện
Những con rồng đất khi đỏ, khi xanh
Lẫn trong hàng ngũ

Những con bói cá
Đậu trên những dây buồm
Đang đo mực nước
Những con bạch tuộc
Bao tay chân cố dìm một con người

Đất nước đang lên da lên thịt
Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày
Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải
Đã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống
Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng
Mòn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang
Làm rỗng những con người lụi dần niềm hy vọng
Héo dần mầm sáng tạo mất phẩm giá con người
Chúng nó ở bên ta trong ta lén lút
Đào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men
Tôi đã thấy từng mặt từng tên xâu chuỗi
Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt

Hãy dừng lại
Những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc
Những tên muốn cây to che cớm mầm non

(Những người trên cửa biển)

Những kẻ Đào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men như Trần Dụ Châu ngày ấy, nay nhung nhúc trong Đảng, trong xã hội ai cũng thấy; nhưng còn Những con rồng đất khi đỏ khi xanh, khi ngả theo Liên Xô, khi sà vào lòng Trung Quốc; gõ mõ thật to để tụng niệm “Tư tưởng Hồ Chí Minh” mà thực tế ngược lại Hồ Chí Minh; thậm chí đã từng tổ chức hãm hại Người; Những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc. Những tên muốn cây to che cớm mầm non. Làm rỗng những con người lụi dần niềm hy vọng. Héo dần mầm sáng tạo mất phẩm giá con người thì đâu có dễ vạch mặt chỉ tên, vì chúng là Những con bói cá. Đậu (tít) trên những dây buồm. Chúng là bọn hãnh tiến, là những tên cơ hội nguy hiểm nhưng lại đủ quyền đủ thế để lu loa người chân chính là cơ hội. Đối với đất nước, với dân tộc, chúng là thế lực phản động nhưng lại oang oang vu khống những người nghĩa khí là phản quốc, phản Đảng, thậm chí là gián điệp!

Có lúc Văn Cao đã dám rụt rè vạch mặt một trong những tên đầu xỏ bậc thầy đó:

Tôi đã gặp lại anh
Im lìm như một bức ảnh
Người anh dẹt như một con dao
Gây nhiều vết thương cho bạn hữu

Anh mang trong tôi nhiều bộ mặt
Đâu là cái cuối cùng
Chỉ còn hai con mắt
Trắng dã không thể dối lừa

(Về một người, 1960)

Nhìn vào bức chân dung ai cũng nhận ra được một nhân vật tác oai tác quái một thời, nhưng không ai dám nói thẳng tên ông ta. Ông ta đã từng hãm hại rất nhiều hiền tài, kể cả những công thần đại danh của cách mạng, đến như tướng Võ Nguyên Giáp.

Nhưng rồi, chắc chắn lịch sử sẽ phán xử công minh.

Thật chua xót khi cho đến ngày nay, nhìn lên, ta chỉ thấy:

Còn lại những đám khói đen
Đọng giữa trời sương sớm

(Ai biết Hải Phòng là đâu)

Cho đến ngày nay dân tộc ta vẫn phải

Đêm đêm cầu nguyện bên đèn
Chưa thấy ngày mai hửng sáng
Chỉ thấy những xác thiêu thân
Chết trên mặt bìa những cuốn sách kinh

Những pho tượng không bao giờ nói
Hai con mắt nhìn an ủi
Ngón tay không chỉ rõ đường

(Tình yêu và khát vọng, 1956)

Đánh giá về Văn Cao viễn kiến, tôi thật tâm đắc với Nguyễn Thuỵ Kha khi ông viết:

“Tôi nhớ câu thơ của nhà thơ Liên Xô Andrei Voznesensky: “Không thể chịu được khi không có tài năng – nhưng khi có tài năng lại cũng không chịu được”. Thật không muốn nhắc lại những gì đã qua, nhưng trong ngót nửa thế kỷ này ta không thật sự nuôi dưỡng những tài năng lớn. Tầm nhìn thiển cận đã tự làm nghèo mình đi bao nhiêu. Cũng là tài năng thơ nhưng có người suốt một thời chỉ nhằm tạo ra hiệu quả trước mắt cho cách mạng. Hành động đáng quý đó xẩy ra với Maiacovski ở Liên Xô, với cụ Pham Bội Châu, Phan Chu Trinh ở Việt Nam. Nhưng không tạo ra hiệu quả kịp thời không có nghĩa là chống lại cách mạng, mà chính họ - những nghệ sĩ ấy muốn đem lại cho cách mạng những giá trị đích thực và dài lâu. Hành động đó cũng đáng quý như hành động kể trên. Không so sánh tài năng, chỉ đồng nhất hiện tượng, có thể kể ra ở Liên Xô cũ là Boris Pasternak, còn ở Việt Nam là Văn Cao và một số tài năng cùng thế hệ anh”.


IX.

“Có lúc nước mắt không thể chảy ra ngoài được”

Sau suốt một đời hô hào dắt giống nòi quê hương qua nơi lầm than. Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới và bản thân đã từng xả thân chiến đấu cho độc lập dân tộc, cho cái chân, cái thiện, cái mỹ, Văn Cao đã từng có thời khắc được ngợi lên khúc khải hoàn ca:

Từ đây người biết quê người
Từ đây người biết thương người
Từ đây người biết yêu người

(Mùa xuân đầu tiên)

Tuy vậy, trên kia vẫn là tiếng kêu buồn của ông gửi trần thế mà tất cả những lương tri còn lại trên đời không thể không xót xa, trăn trở:

Có lúc
một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ

có lúc
ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt

có lúc
nước mắt không thể chảy ra ngoài được

(Có lúc, 1.1963)

Suốt gần hai chục năm trời, ngoại trừ quốc ca, hầu như các bài hát của Văn Cao không còn được hát, thơ Văn Cao không thấy được in. Ông phải lao đao mưu sinh bằng vẽ bìa sách, minh hoạ báo, sáng tác nhãn diêm, tem thư… Tất cả đều không được ghi bút danh thật mà chỉ có chữ “Văn”.

Nhà Văn Sơn Tùng kể, có hôm ông lếch thếch đi bộ từ nhà sang gõ cửa gọi vợ mình: “Chị Mai ơi ! Chị còn tiền đi chợ không, đem mua cút rượu về đây uống, mai kia có nhuận bút cái tranh minh hoạ ở báo Văn Nghệ tôi lại đưa chị”.

Trong những cuốn sách ký tặng nhà văn Sơn Tùng, có cuốn ghi: “Thân mến gửi anh chị Sơn Tùng tập nhạc này để nhớ nhiều ngày đã ăn cơn nhạt” (Xuân Canh Thân).

Một hôm khác, đã gần khuya, bỗng có tiếng đập cửa nghe rất hung bạo. Vừa mở cửa, thấy sững người vì trước khung cửa là một khuôn người lực lưỡng, mặt méo mó như có sẹo. Lấp ló phía sau là Văn Cao rã rời, không còn thần sắc. Hắn nắm cánh tay đẩy Văn Cao vào:

“Khượt rồi. Bảo đưa về nhà với vợ, không chịu. Chỉ đường đưa tới đây!”

Lúc tỉnh dậy, Văn Cao rùng rợn kể lại chuyện có người đến nhà rủ ra quán. Một bọn hùa nhau đổ cho Văn Cao thật say rồi gọi xich lô chở đi. Rã rượu, Văn Cao nhận ra hình như đang nằm trong một cái động nhà thổ, ghê sợ lắm. (Người ta dễ dàng liên tưởng đến vụ kéo nhà thơ Bùi Minh Quốc đi hát Karaoke và vụ rủ tướng Trần Độ đến khách sạn Hữu Nghị để bố trí quay phim, chụp ảnh.)

Vì sao Văn Cao có thời gian dài “ngồi chơi xơi nước”, có nhiều ngày ăn cơm nhạt? Quả tình Văn Cao chưa hề bị tù như Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Cung… Nhưng đối với những trí thức như Văn Cao, cái đòn “đắm đuối người trên cạn mà chơi” còn độc ác, còn gây đau khổ gấp mấy lần tù giam lỏng.

Một số anh em trẻ hỏi tôi lý do Văn Cao bị xử lý. Câu trả lời của tôi nói chung không đủ sức thuyết phục và họ đều cho rằng tôi không nắm được vấn đề. Tôi đi hỏi thêm một số người được xem là có dính dáng đến Nhân văn-Giai phẩm. Chẳng câu trả lời nào nghe cho thật có lý.

Chính bản thân Văn Cao cũng không hiểu vì sao:

Tại sao tôi chạy?
tôi không hiểu tôi
cả phố đuổi theo tôi
xe cộ đuổi theo tôi

tôi chạy bạt mạng
gần hết đời
tới chỗ chỉ còn gục xuống
tỉnh dậy mồ hôi chảy
tôi lại thấy tôi là người chưa phạm tội

tôi rơi vào mạng nhện
mạng nhện cuốn lấy tôi
không còn cách gì gỡ được

tôi như con sâu tằm
cuộc đời cứ như thế

muốn phá cái mạng nhện
tôi không đủ tay

(Ba biến khúc tuổi 65)

Cho đến bây giờ, được lạc vào Thiên Thai rồi, chắc Văn Cao càng không thể nào hiểu được. Chỉ còn vọng lại những tiếng kêu buồn thảm thiết:

Tôi chỉ còn thoảng nhớ
Một cái nhớ thuộc về cơ thể
Những vết roi còn nằm trong da thịt nhiều năm
Những tiếng chửi vọng suốt thời tôi sống

(Không nhớ, 19.12.1963)

Chúng ta ngủ tìm một cơn mộng
Quên một ban ngày đã qua
nhọc nhằn chịu đựng

(Quên, 25.6.1957)

Không
đất này mọc lên
từ
nước mắt!

(Quy Nhơn 3, 15.4.1985)

Nhưng Văn Cao dứt khoát không bi luỵ, không rã rời. Ông tự dằn vặt mình. Ông quằn quại vươn lên trong tột cùng đau khổ một cách kiên cường:

Khi đêm tối tất cả người tôi thức dậy
Những đam mê quên ngủ suốt ngày

(Thức dậy, 2.3.1964)

Tôi đã mất sắc da tuổi trẻ
Nhưng một tôi đã rắn chắc lại rồi
Mùa xuân không kịp nở
Mãi trong tôi
Những tháng ngày khát khao hy vọng

(Trong mùa xuân đời tôi, 9.10.1959)

Mùa xuân đi qua không nở được
Còn giữ lại mãi cái mầm trong suốt đời tôi
Như một mầu luyến tiếc
Nhưng một ngọn lửa nhen cứ bùng lên
mãi mãi
Cho đến khi nào chết đi nó vẫn chưa nở được
Để phải mọc lên trên mồ hôi những bông hoa trắng nhất
Cho tuổi trẻ ngày sau thấy một mùa xuân
đã mất

Trong một chiến tranh
Để xây ngày mai hạnh phúc

Họ hái mãi những bông hoa trắng đó
Và sống thêm phần hạnh phúc của tôi

(Mùa xuân không nở, 8.1957)

Đầy đoạ một Nguyễn Văn Cao - bậc tiền bối của cách mạng - là sự chà đạp lương tri một cách tàn ác, làm nhơ danh Đảng. Bóp nghẹt cái Mùa–Xuân-Văn–Cao của đất nước, của dân tộc, làm cho nó không thể nào nở được càng có tội bội phần lớn hơn đối với nhân dân Việt Nam.

Ai biết được còn bao nhiêu Sông Lô, bao nhiêu Thiên Thai… đã nghẹn lại, không thể ra đời. Và như thế đất nước đã mất đi bao nhiêu cái có thể còn quý giá hơn những gì đã biết của Văn Cao!

Vậy mà sao cho đến bây giờ cũng chỉ có được mấy giọt cảm thương một cách rất rụt rè kiểu như thế này: “Một nghệ sĩ chân chính như Văn Cao không thể không day dứt trước bao nhiêu cái gọi là ‘thói đời’. Tất cả những người cùng thời với Văn Cao – chúng ta đều hiểu ý nghĩa của Đai hội VI. Vậy những ‘thói đời’ gì? Sao lại để mãi đến Đại hội VI mới sửa một phần ‘thói đời’” (Trần Bạch Đằng).

Nhìn lại một thân phận Văn Cao ở Việt Nam, ta không thể không liên tưởng đến Boris Pasternak ở Liên Xô. Sau khi cuốn tiểu thuyết Bác sĩ Zhivago dược trao giải thưởng Nobel, bỗng dưng B. Pasternak cũng bị nhâu nhâu chửi bới, bị đuổi khỏi Hội Nhà Văn Liên Xô, bị đe doạ trục xuất khỏi đất nước.

Như Văn Cao, Pasternak đã từng kêu khóc thảm thương trong bài thơ Giải thưởng Nobel:

Tôi chết sững như con thú bị lùa
Đâu đây có người, tự do, ánh sáng
Còn sau lưng tôi là tiếng xua đuổi ồn ào
Mà tôi không có ngả nào thoát ra

Tôi đã làm gì xấu xa
Tôi sát nhân, tàn bạo?
Tôi đã bắt cả thế gian phải khóc
Thương vẻ đẹp quê tôi

Với vòng dây thế này ở cổ
Tôi vẫn còn ước ao:
Cánh tay phải của tôi
Lau nước mắt giùm tôi

Người ta cũng đã tìm mãi mà không hiểu B. Pasternak phạm tội gì, ngoại trừ mấy dòng sau đây trong cuốn Bác sĩ Zhivago:

“Tai hoạ chính, căn nguyên của cái ác trong tương lai là việc mất tin vào giá trị của ý kiến cá nhân mình. Người ta tưởng rằng đã qua rồi cái thời cần làm theo sự mách bảo của đạo đức, tưởng rằng bây giờ phải hót theo giọng điệu chung và sống bằng quan niệm của kẻ khác, những quan niệm bị gán ép cho hết thảy mọi người.”

Đồng thanh tương ứng, Văn Cao cũng từng viết:

Người làm thơ biết thành lập cho mình một cá tính trong suy nghĩ, trong tình cảm, trong cảm giác những điều mới lạ bao nhiêu là làm phong phú thêm cho người đọc về mặt tư tưởng, cảm xúc hay cảm giác .” (Mấy ý nghĩ về thơ, 1957)

Thì ra, dù biết vì nhân dân quên mình, xả thân đi làm cách mạng nhưng lại không biết khom lưng cúi đầu, làm nô lệ cho những thế lực nhân danh Đảng; lại còn, giống như B. Pasternak, biểu dương cá tính, kêu gọi tôn trọng cái tôi, bênh vực quyền con người thì trong cái chế độ tập trung dân chủ, Văn Cao tất phải mang thân phận Văn Cao.

Tuy nhiên, Mùa Thu tuồng như đã lại đến. Cái Mùa Thu buồn vui lẫn lộn. Cứ thấy miên man như Văn Cao:

Nắng chuyển dần
trên thềm đá cũ
mùa thu năm nay
không mưa ngâu

(Mùa Thu, Trung thu 1992)
 
2.12.2004
Nguyễn Thanh Giang
Tản mạn về người viết Quốc ca Việt Nam
(Nhân 60 năm ngày nhạc sĩ Văn Cao viết Tiến quân Ca)
 1   2 
 
© 2004 talawas

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=3347&rb=0206 

•• Âm nhạc cổ truyền

•• Nhạc mới

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•••• Nghệ sĩ từ trần

•• Nghiên cứu gia VN

•• Nhạc thiểu số

•• Tiểu sử ca sĩ

•• CA TRU

•• HÁT XẨM & TRỐNG QUÂN

•• Nhạc Hàn Quốc

•• Nhạc Nhựt Bổn

•• Nhạc Trung quốc

•• Nhạc Đông Nam Á

•• Nhạc Mông Cổ

•• Nhạc sắc tộc

•• Nhạc Tuva

•• song thanh tác giả khác

•• song thanh TQH

•• Giọng trị bịnh

•••• Chakra - Yoga

•• Ca sĩ Khoomei

•• Nghiên cứu gia Khoomei

•• Âm thanh học

•• Ngôn ngữ khác

•• Đàn Mội Hmông

•• Tiêm ban sach và nhac cu

•• Tiểu sử dân tộc nhạc học gia

•• Trang nhà dân tôc nhac hoc

•• Phân mêm : Phân tach bôi âm

•• Muông

•• Tran Quang Hai

•• Nhac si Viêt Nam

•• Hat dông song thanh

•• Bach Yên

•• VIDEO/CD trên WEB

•• Nhạc Việt cổ truyền

•• Đàn Môi

•• Tiểu sử nhạc sĩ

•• Tiểu sử

•• Phỏng vấn báo, radio

•• Bài viết

Visitors: 22003079